Thứ Tư, 26 tháng 4, 2017

Cách trồng quả thanh mai tại nhà

Thời điểm trồng Thanh mai thích hợp nhất
Thanh mai là loại quả dễ trồng và dễ chăm sóc, bạn có thể bắt đầu trồng thanh mai từ hạt vào lúc tháng Sáu hoặc tháng Bảy để cây nhanh chóng nảy mầm hoặc trồng cây con khi mới bắt đầu thu đông. Tỷ lệ nảy mầm của thanh mai đạt từ 10% - 90% tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên và bàn tay chăm sóc của người trồng



Thời gian nảy mầm  
Hạt thanh mai có thể mất 2-12 tháng để nảy mầm tùy thuộc vào thời gian các lớp sáp trên quả bị phá vỡ. Để kích thích hạt nảy mầm nhanh nhất, bạn có thể cạo bỏ một phần lớp sáp bao quanh hạt bằng cách chà xát lớp vỏ trên bề mặt nhám trước khi gieo để rút ngắn thời gian. Ở các trang trại, khi trồng với số lượng nhiều, các đại lý thường ngâm hạt trong chất tẩy rửa để loại bỏ lớp sáp bảo vệ. 
Loại đất phù hợp 
Đất trồng thanh mai chỉ cần pha thêm chút phân hữu cơ trước khi trồng. Sau khi gieo hạt sâu xuống đất khoảng 1cm, bạn nên che phủ lên trên mặt đất ít gỗ bào, lá khô để hạn chế cỏ dại và giữ độ ẩm cho đất. Trong suốt năm đầu tiên, bạn cần tưới nước hàng tuần để rễ cây phát triển. Khi cây đủ lớn, thanh mai ít khi cần tưới nước trừ khi nắng nóng quá dài khiến đất khô cạn.
Quá trình chăm sóc 
Thanh mai rất dễ trồng và không đòi hỏi phải chăm sóc gì nhiều. Sau khi trồng vào mùa hè, đến mùa xuân là bạn có thể cắt bớt các cành yếu, cành chết để tập trung phát triển nụ mới, ra hoa. Cây thanh mai cũng hiếm khi cần phân bón, trừ khi tăng trưởng chậm. Thậm chí, nếu bón quá tay phân đạm, thanh mai rất dễ bị xót gốc mà chết.

Thứ Ba, 25 tháng 4, 2017

Kỹ thuật trồng quýt hồng

Muốn lập một vườn Quýt Hồng dù trồng bằng cây con, nhánh chiết hoặc tháp cũng đều phải chọn giống.


1. Chọn giống

Ngày xưa ông bà thường nói: “Mua heo chọn nái, cưới gái chọn giòng”. Về phương diện làm vườn cũng vậy, vì trồng cây mà không chọn giống thì uổng công. Từ ngày trồng cây đến ngày thu hoạch, ta tốn biết bao công sức và tiền bạc mà cây chậm phát triển, cho năng suất không cao thì phí công, hao của biết chừng nào.

Muốn lập một vườn Quýt Hồng dù trồng bằng cây con, nhánh chiết hoặc tháp cũng đều phải chọn giống.

2. Các loại cây giống

a. Trồng bằng cây con:

Trồng cây con là cách gây giống bằng phương pháp hữu tính, là quá trình tạo cây từ hạt. Phương pháp này mang đặc tính di truyền của cây mẹ. Nên ta chỉ lựa một cây quýt nào cho quả tốt rồi lấy hạt đem ương. Cách này có thể thực hiện được nhiều cây giống cùng một lúc nhưng phải có thời gian chờ cây con lớn. Thường thì đem ra vườn ngâm từ một năm trở lên mới có thể trồng được. Có hai cách trồng cây con: có hai cách trồng cây con: Bứng từ vườn ươm nguyên cây đem trồng hoặc chiết ngang tốc (xem phần chiết nhánh).

b. Trồng bằng nhánh chiết:

Gây giống bằng phương pháp chiết nhanh tương đối dễ, mau trồng và mau có trái hơn trồng bằng cây con, nhưng cũng hạn chế về mặt số lượng. Nhánh chiết cũng phải lựa giống cây tốt và nhánh tốt. Thường thì nhánh chiết từ cây mẹ nguyên là cây con có từ 3 năm tuổi trở lên và không quá 5 năm thì nó sẽ phát triển mạnh hơn, nhưng sẽ có trái trễ hơn nhánh chiết từ cây mẹ nguyên là nhánh chiết.

c. Trồng bằng cây tháp (ghép):

Quýt Hồng phát triển ở Lai Vung, Đồng Tháp khá lâu nhưng với cái bệnh chết bất thường đến nay cũng chưa ai chữa trị được để khỏi trồng cây khác. Nên người ta tìm một gốc cây có quan hệ họ hàng về mặt thực vật rễ phát triển tốt, bền, ít chết bậy như chanh, cam, bưởi v.v… để tháp (ghép) Quýt Hồng vào.

Gốc tháp phải đạt yêu cầu sau:

- Có sức sinh trưởng tương đương với cành tháp.

- Có bộ rễ sinh trưởng mạnh, đâm chồi nhiều và sinh nhiều rễ phụ.

- Dễ thích ứng và chịu đựng tốt với điều kiện thời tiết như mưa, nắng, ngập nước v.v…

Với điều kiện trên ta nhận thấy dùng nhanh để làm gốc tháp là thích hợp nhất.

Trồng Quýt bằng phương pháp tháp (ghép) thì việc gầy giống còn khó khăn và chậm. Cần thời gian chuẩn bị cây trồng và kỹ thuật tháp (ghép) cao mới đủ số lượng trồng nhiều, nhưng rất đảm bảo về mặt phát triển và lợi được nhiều về phương diện khác như: không cần phải làm bờ quá cao tốn kém, không sợ úng thủy hau nước ngập.

d. Khu ươm cây và giâm cây giống:

Muốn cây mới đem trồng vào vườn ít hao, dù cây con hay nhánh chết, ta nên giâm ở vườn ươm một thời gian cho cây tươi tỉnh. Khi thời tiết thuận lợi đem ra vườn trồng, cây sẽ không bị héo và mau phát triển.

Trồng một vườn cây ăn trái dù lớn hay nhỏ cũng nên có một khi dành riêng để giâm cây con trước khi đem trồng.

Có hai loại cây giâm:

Giâm cây con:

Cây con ươm từ hạt khi lên cao từ 2 tấc trở lên đem giâm vào khu giâm. Sau 1 năm tuổi ta có thể bứng nguyên cây hoặc chiết ngang gốc để trồng (xem cách giâm cây con).

Giâm nhánh chiết hoặc cây con chiết ngang:

- Giâm tạm (rấm)

Khi cắt một đầu chiết đã ra rễ trồng được ta nên đem rấm (giâm tạm) bằng cách để các bầu sát vào nhau nơi mát hoặc có mái che và đắp thêm vào rễ một cục đất bùn. Sau 15 ngày rễ sẽ mọc dài ra thêm thật nhiều, khi đó đem đi trồng nhánh sẽ không mất sức.

- Giảm thực thụ (thời gian từ 1 năm)

Nếu trong hoàn cảnh chuẩn bị vườn chưa xong mà muốn cây mau thu hoạch ta nên chuẩn bị cây giống và giâm trước. Nhờ cách này ta có thể rút ngắn thời gian thu hoạch tùy giâm lâu hay mau nhưng không quá 2 năm, vì cây lớn quá sẽ khó bứng. Cây giâm thực thụ phải thưa để cây phát triển. Khoảng cách giữa hai cây có thể từ 5 tấc đến 1 thước. Đây cũng là cách dự phòng để thay vào những cây chết trong vườn mỗi khi cần.

Thứ Hai, 24 tháng 4, 2017

Kỹ thuật chăm sóc xoài cát Hòa Lộc

Xoài cát Hòa Lộc là loại quả đặc sản ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Loại quả này không chỉ có vị thơm ngon đặc biệt mà còn mang lại giá trị kinh tế cao. Cùng tìm hiểu kỹ thuật trồng xoài cát Hòa Lộc - bí quyết làm giàu cho ngành trồng trọt


KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY XOÀI CÁT HÒA LỘC
Xoài cát Hòa Lộc - kỹ thuật trồng xoài cát hòa lộc
.
Để xoài cát Hòa Lộc được mùa bội thu, bạn cần lưu ý đến các kỹ thuật trồng cây và chăm sóc cây như sau:

1. Thời vụ trồng xoài cát Hòa Lộc
Xoài cát ưa khí hậu mát mẻ, ẩm ướt. Vì vậy thời điểm tốt nhất để trồng loại quả này là vào đầu mùa mưa từ tháng 5 -7 dương lịch. Tuy nhiên ở những nơi có đủ nước tưới và có khả năng che mát thì có thể trồng vào bất cứ thời gian nào trong năm đều được.
Xem thêm: >> Kỹ thuật trồng  bưởi da xanh

2. Cách làm đất trồng cây xoài
Lên liếp cao từ 50 – 80cm, rộng 70cm để đảm bảo gốc cây không bị úng nước khi trời mưa. Đối với những nơi đất thấp thường xuyên bị ngập úng thì bà con nên trồng cây trên mô; đường kính mô rộng từ 60-80cm, cao 30-60cm.
Xoài cát hòa lộc, xoài cát, chăm sóc cây, trồng cây, cây xoài
Xoài cát Hòa Lộc - kỹ thuật trồng xoài cát hòa lộc
Cách làm đất và trồng cây xoài cát Hòa Lộc cũng thật đơn giản

Trước khi trồng nên dùng phân chuồng trộn với tro trấu và đất vườn trồng với nhau theo tỉ lệ 2 đất + 1 phân chuồng + 1 tro trấu, trộn thêm với 0,2 – 0,3 phân NPK 16:16:8 để làm mô trồng cây.

3. Khoảng cách trồng cây xoài cát Hòa Lộc
Khoảng cách trồng lí tưởng là 8m x 8m hoặc 10m x 10m. Tuy nhiên nếu bà con trồng thâm canh thì có thể trồng với khoảng cách 6m x 6m nhưng bà con cần cắt tỉa cành, tạo tán từ sớm để cây nhận được đầy đủ ánh sáng.

4. Bón phân
Tùy theo điều kiện đất đai và cây phát triển mà bón phân cho thích hợp; bạn có thể tham khảo liều lượng bón phân như sau:
–   2 năm đầu: Bón 150 – 300 g phân 16 – 16 – 8 và 100 – 200g Ure/cây/năm hoặc pha 1 muỗng canh phân 16 – 16 – 8 với ½ muỗng ure/thùng 10 lít, tưới vào gốc (5 – 6 gốc/thùng) định kỳ 30 ngày/lần.
–   Cây 6 – 8 năm tuổi : Bón theo công thức 1,09 – 0,9 – 0,96 kg NPK/cây/năm. Chia làm 3 đợt bón như sau:
+   Sau khi thu hoạch: bón 550 – 300 – 240g NPK/cây/năm
+   Trước khi xử lý ra hoa 30 ngày, bón theo công thức 180 – 300 – 240 g NPK/cây/năm
+   Sau khi đậu trái 2 tuần bón 360 – 300 – 480 g NPK/cây/năm

5. Tưới nước
Sau khoảng thời gian khô hạn của mùa khô cần tưới đủ nước để cây ra hoa và kết trái.

6. Tỉa cành, tạo tán
Xoài cát hòa lộc, xoài cát, chăm sóc cây, trồng cây, cây xoài
Tỉa cành, tạo tán cho cây phát triển.
Bấm ngọn cây sau 1 năm tuổi (khoảng 3 – 4 lần ra đọt) ở vị trí cách mặt đất khoảng 0,6 – 1 m để có nhiều chồi bên. Sau khi cắt ngọn, chỉ giữ lại từ 3 – 4 chồi theo hướng đều nhau, chúng không cùng 1 điểm xuất phát là tốt nhất. Khi cành ngang có khoảng 2 – 3 lần đọt, tiếp tục bấm ngọn cành này. Chú ý giữ lại từ 3 – 4 chồi mọc theo các hướng tạo cân đối cho tán cây.
Cắt tỉa phải được thực hiện thường xuyên hàng năm, sau mỗi kỳ thu hoạch để loại bỏ những cành sâu bệnh và chuẩn bị cho sang năm ra hoa và kết trái.

7. Bảo vệ hoa và trái
Cần thường xuyên chăm sóc cây để nhanh chóng phát hiện ra những dấu hiệu bất thường xuất hiện trên cây để xử lí kịp thời. Bà con cũng cần phải thường xuyên phun thuốc bảo vệ thực vật để cây được mạnh khỏe.
Những kỹ thuật trồng và chăm sóc cây Xoài Cát Hòa Lộc được chia sẻ trên đây hi vọng sẽ giúp ích được cho bạn trước khi trồng xoài cát hòa lộc để tăng thêm thu nhập

Chủ Nhật, 23 tháng 4, 2017

Muốn ăn ngon mà vẫn muốn giảm cân hãy ăn trái này

Cây thần kỳ 1 loại cây ăn trái, vừa có thể trồng làm kiểng
Chất Miraculin của cây kỳ diệu là hợp chất tạo vị ngọt thiên nhiên đã được người châu Phi dùng rất nhiều năm, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng miraculin không tạo ra calori nên nhiều nhà sản xuất kỳ vọng nó sẽ có ứng dụng rộng rãi để điều trị bệnh nhân cần sử dụng các chất tạo ngọt tổng hợp và tránh dùng saccaroza như bệnh tiểu đường, bệnh béo phì…


Đây là một khóm cây cảnh hình dáng hấp dẫn có trái đỏ, bóng, mọng (xem hình), trông đã đẹp mắt mà nếm thì có vị… “trên cả tuyệt vời” nên được gọi là “quả cây kỳ diệu”, tên khoa học Synsepalum dulcificum. Dù có ăn kèm với một trái cây “chua lè” như chanh chẳng hạn, thì chua cũng hoá ngọt.

Hiện nay, người ta đang tính dùng nó là “trái tạo ngọt thiên nhiên” thay thế đường theo dòng những thảo mộc như cây Cỏ ngọt Stevia rebaudiana; hơn thế nữa, có thể dùng kèm với những thuốc đắng, để át vị của thuốc – mà không làm thay đổi tác dụng, không tương tác với thuốc, không gây tác dụng phụ nào cả.

Một quán cà phê ở Tokyo (Nhật) đã có sáng kiến đưa “trái kỳ diệu” vào thực đơn các món tráng miệng, để thu hút những thực khách có nhu cầu giảm cân – ăn nhiều món ngon mà không sợ nạp quá nhiều Calo.
cây thần kỳ

Trái thần kì

Tác dụng của nước ép trái Synsepalum trên các gai vị giác ở lưỡi, có lẽ “kỳ diệu” ở chỗ vị ngọt kéo dài khoảng từ 30 phút đến 1 giờ, người ta có thể chấm dứt “phép lạ” này bằng cách … tráng miệng (rửa miệng) bằng một chút nước nóng hay trà nóng.

Cách trồng đơn giản cây thần kỳ:
cây thần kỳ - phân trùn quế

Chuẩn bị: đất sạch, phân trùn quế, dịch trùn quế D01, cây giống, chậu trồng (có thể mua ở các vựa kiểng, hoa kiểng trên toàn quốc)

Bước 1: Trộn đất sạch với phân trùn quế theo tỉ lệ 1 bao đất với 1 bao phân trùn quế. Rồi bỏ cây giống vào chậu trồng. Tưới nước mỗi ngày 2 lần sáng và chiều.

Bước 2: sau 1 tháng trồng, mỗi tuần phun lên lá thần kỳ bằng dịch trùn quế D01 nhằm cung cấp đạm cho cây, đồng thời bón phân trùn quế dưới gốc cung cấp dinh dưỡng đa trung vi lượng cho cây. Sau 6 tháng bắt đầu có hoa, rồi có trái, thời gian ra trái khá lâu.

Thứ Sáu, 21 tháng 4, 2017

Bệnh hại trong vườn ươm cây ăn quả hiệu quả

I.GIỚI THIỆU Ðể đảm bảo năng suất và tuổi thọ của vườn cây, việc chọn lọc cây giống tốt và chăm sóc cây con trong giai đoạn vườn ươm là yếu tố hết sức quan trọng đối với nghề trồng cây ăn trái. Giữa cây trồng, vi sinh vật gây bệnh và điều kiện ngoại cảnh có mối liên quan và tác động hết sức chặt chẽ lẫn nhau.



Mức độ phát triển của các vi sinh vật gây hại cho cây phụ thuộc rất lớn vào điều kiện ngoại cảnh như là các yếu tố ẩm độ, nhiệt độ không khí và giai đoạn sinh trưởng của cây trồng.

Do trong điều kiện vườn ươm cây con có rất nhiều đặc điểm thuận lợi cho sự phát sinh và phát triển của bệnh hại, cho nên vấn đề theo dõi và chăm sóc cây con trong vườn ươm cần phải được quan tâm đặc biệt hơn so với điều kiện ngoài đồng.

II. MỘT SỐ ÐẶC ÐIỂM THUẬN LỢI CHO SỰ PHÁT SINH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BỆNH HẠI TRONG ÐIỀUKIỆN VƯỜN ƯƠM

Trong điều kiện của vườn ươm hầu hết các yếu tố ngoại cảnh đều phù hợp cho sự phát sinh, phát triển và lây lan của dịch bệnh. Các yếu tố ấy bao gồm:

1.Ẩm độ không khí trong vườn luôn luôn cao: Vườn ươm là nơi mà ẩm độ không khí luôn luôn được duy trì ở mức độ cao nhằm đáp ứng cho nhu cầu sinh trưởng của cây con. Yếu tố này cũng rất phù hợp cho sự sinh sản và phát tán của các mầm bệnh hại.

2. Mật độ cây trong vườn dày đặc: Do phải tận dụng diện tích nên mật độ cây con trong vườn thường cao. Mật độ cây cao này càng làm gia tăng ẩm độ trong liếp ươm cây và khả năng tiếp xúc để lây lan mầm bệnh từ cây này sang cây khác trong khu vườn ươm.

3.Giai đoạn cây mẫn cảm: Hầu hết các vi sinh vật gây bệnh đều dễ dàng tấn công vào cây qua các bộ phận non của cây. Vì vậy giai đoạn cây con trong vườn ươm là giai đoạn cây rất dễ bị nhiễm bệnh.Từ những đặc điểm thuận lợi cho sự phát triển của bệnh hại đã nêu trên chúng ta nhận thấy để phòng trị bệnh ngoài việc tác động vào ký sinh gây bệnh, việc tác động vào cây trồng và điều kiện sống bên ngoài bằng các biện pháp kỹ thuật quản lý vườn có một ý nghĩa rất cơ bản.

IV. MỘT SỐ BỆNH HẠI PHỔ BIẾN TRONG VƯỜN ƯƠM

1. Bệnh lở cổ rễ, chết cây con
Là bệnh rất quan trọng và phổ biến ở hầu hết các vườn ươm. Ðiều kiện ẩm độ cao của đất là yếu tố thích hợp nhất cho bệnh phát triển nhanh chóng. Bệnh này xảy ra trên hầu hết các loại cây ăn trái khác nhau trong vườn ươm.

Triệu chứng của bệnh:
Bệnh có thể xảy ra ở 2 giai đoạn: 
- Giai đoạn trước khi cây mọc mầm, lúc mà các tử diệp của cây chưa nhô ra khỏi vỏ hạt thì đã bị nấm tấn công, và giai đoạn sau khi cây mọc mầm: lúc tử diệp đã xuất hiện cho đến khi cây được vài đôi lá. Tuy nhiên, phổ biến nhất là lúc cây có đôi lá đầu tiên đến khi cây có đôi lá thứ 3. Ðôi khi cây cũng có thể bị tấn công ở giai đoạn muộn hơn. Ngoài ra, cây sau khi ra ngôi đến vài tháng cũng có thể bị nhiễm bệnh. Vết bệnh thường xuất hiện ở phần gốc gần mặt đất. Phần mô bị bệnh hơi lõm vào, có màu nâu, sũng nước và lây lan rất nhanh. Khi vết bệnh lan rộng, cây con thường bị ngã rạp. Bộ rễ của cây thường bị thối đen. Bệnh thường xuất hiện từng cụm trên líp ươm, sau đó lan nhanh sang xung quanh. Ðối với những cây bị tấn công muộn, cây bị héo nhưng vẫn đứng chứ không bị ngã rạp như khi cây bị tấn công sớm. 

Tác nhân:

Bệnh có thể do nhiều loại nấm lưu tồn trong đất như: Phytophthora spp, Rhizoctonia solani, Slerotium spp, Fusarium spp. gây ra. Nếu do nấm Slerotium gây hại thì trên mặt đất gần gốc câybệnh có thể nhìn thấy các hạch nấm tròn màu nâu. Trong khi nấm Rhizoctonia tạo nên cáchạch nấm tròn dẹp và bề mặt hạch nấm sần sùi.

Trong các vườn ươm cây con ở ÐBSCL nấm Rhizoctonia được thấy khá phổ biến hơn. Triệu chứng điển hình nhất của nấm này là làm cho cây bị teo thắt phần cổ rễ và làm cho cây bị chết. Nấm gây bệnh lưu tồn trong đất. Chúng phát triển và lây lan mạnh trong điều kiện đất có ẩm độ cao, thiếu ánh nắng như ở vườn ươm. Ngoài ra, cây con có nhiều mô non tiếp xúc với mặt đất, do vậy nấm bệnh dễ dàng xâm nhiễm. Bệnh này đặc biệt phát triển mạnh những lúc mưa kéo dài, luống ươm hay bầu đất bị ứ đọng nước. 

Biện pháp phòng trị:

Ðối với bệnh này phòng ngừa là quan trọng hơn hết. Ðể phòng ngừa bệnh, hạt giống trước khi gieo cần được xử lý bằng nước nóng 52- 54oC, thời gian tùy thuộc vào từng loại hạt. Những hạt có vỏ dày, cứng thời gian xử lý hạt có thể dài hơn. Thuốc trừ nấm cũng được khuyến cáo xử lý cho hạt trước khi bảo quản và gieo trồng như Zineb, Benomyl, Mancozeb hoặc Rovral. Việckết hợp giữa thuốc trừ nấm và xử lý nhiệt sẽ cho hiệu quả phòng trừ bệnh cao hơn. Ðất gieo hạt hoặc đất ở các luống ương cây giống cũng cần phải được xử lý trước khi gieo. Có thể sử dụng Formalin xông hơi với vải bạt đậy bên ngoàitrong 3 ngày hoặc dùng một số loại thuốc trừ nấm để xử lý đất như Kitazin, Rovral. Sau đó phun thuốc lên cây con ở giai đoạn sau khi cây nẩy mầm chođến khi cây cao 15-20 cm.Cần duy trì độ ẩm thích hợp cho cây phát triển nhưng không quá cao. Cần thiết phải cho đất được tơi xốp không úng nước. Kiểm soát bệnh bằng chế độ phun thuốc định kỳ mỗi khi cây ra đọt non bằng các loại thuốc gốc đồng. Tỉa bỏ các bộ phân bị nhiễm bệnh nặng và tiêu hủy.

2.Bệnh cháy lá do nấm Rhizoctonia trên cây sầu riêng

Bệnh này rất quan trọng trên cây sầu riêng con (gốc ghép) và cây chuẩn bị trồng. Thiệt hại đôi khi có thể rất cao nếu việc phòng trị không kịp thời.

Triệu chứng: Bệnh gây hại tập trung từng cụm trên vườn ươm và sau đó lây lan rộng. Vết bệnh có màu xanh xám hay xám nâu, các lá bị bệnh có thể bị kết dính lại do sự mọc lan của các sợi nấm. Do đó khi khô, chúng dính với nhau nhưng không rụng. Bệnh này còn được gọi là "tổ kiến". Bệnh có thể tấn công trên các thân non làm khô chết phần ngọn phía trên mà sau đó có màu trắng xám.

Tác nhân: nấm Rhizoctonia solani Nấm phát triển thích hợp trong điều kiện ẩm độ cao, thiếu nắng. Sự lây lan có thể trực tiếp do sợi nấm mọc lan hoặc do hạch nấm di chuyển nhờ dòngnước. Ngoài cây sầu riêng, nấm còn tấn công nhiều loại cây conkhác trong vườn ươm. Nấm bệnh tấn công cây sầu riêng ở tất cả các giai đoạn khác nhau củacây sầu riêng. Do đó nguồn bệnh rất phong phú và có thể tiềm ẩn trong vườncây và sẵn sàng lây lan.

Phòng trừ: 

- Làm giảm nguồn lây lan và ngăn chận sự lây lan từ bên ngoài.
 Mật độ trồng vừa phải để hạn chế sự lây lan 
- Kiểm soát bệnh bằng chế độ phun thuốc định kỳ với các loại thuốc trừ nấm như:
- Benlate, Derosal, Carbendazim, Rovral.

3. Bệnh cháy lá (Sầu riêng): do nấm Phytophthora. Trong giai đoạn vườn ươm, nấm Phytophthora cũng gây ra hiện tượng cháy lá và chết đọt cho cây sầu riêng con.

Triệu chứng:

Vết bệnh trên lá khổi đầu là 1 chấm nhỏ màu nâu, sũng nước và lan rộng nhanh. Vết bệnh sau cùng thường có hình gần tròn hoặc bất định màu nâu đen với rìa màu vàng nhạt. Trong điều kiện phù hợp cho bệnh phát triển, vết bệnh là những phần mô bị thối nhanh có màu xám xanh hoặc xám đen. Lá bệnh bịhéo rũ nhanh và lây lan khá nhanh. Bệnh có thể tấn công cả trên phần ngọn cây làm cây bị chết ngọn.

 Tác nhân: nấm Phytophthora palmivora Nấm bệnh có nhiều ký chủ và cây ăn trái khác nhau như dứa, cây có múi, mít, bơ. Do đó, nguồn bệnh rất phong phú trong tự nhiên và dễ dàng lây lantừ ký chủ này sang ký chủ khác.

Phòng trừ:

- Cần chăm sóc cây khỏe mạnh để tăng sức đề kháng cho cây như cung cấp nước, phân bón hợp lý
- Mật độ cây trong vườn ươm vừa phải, tránh quá dày
 Luôn luôn cải thiện sự thông thoáng trong vườn ươm, dọn vệ sinh trong vườn ươm và có khoảng cách thích hợp giữa các lô.
- Ðảm bảo mật độ gieo trồng vừa phải. Mật độ càng cao thì nguy cơ gây bệnh càng lớn. 
- Nguồn nước tưới không có nguồn bệnh. Nguồn nước ngầm thường có ít nguồn bệnh hơn nước lấy từ sông rạch tự nhiên, bởi vì các bào tử của nấm bệnh lây lan dễ dàng qua nguồn nước tưới.
- Các dụng cụ chăm sóc phải được khử trùng với nước javel để ngăn ngừa sự lây truyền bệnh.
- Vườn ươm cần có lưới, rào để ngăn côn trùng, động vật khác xâm nhập.
- Hạn chế khách tham quan vào vườn ươm.

4. Bệnh loét hại cây có múi

Ðây là một loại bệnh cũng khá phổ biến và nghiêm trọng cho cây có múi ở giai đoạn cây con trong vườn ươm. Bệnh thường xuất hiện trên lá làm lárụng. Ðôi khi bệnh xuất hiện trên thân non làm khô cành và chết ngọn.

Triệu chứng: Ban đầu vết bệnh là những đốm chấm nhỏ màu vàng trong, sau đó đậm dần rồi dần dần hóa nâu, gồ ghề trên bề mặt của vết bệnh. Xung quanh vết bệnh có một quầng vàng rõ rệt, các vết bệnh có thể rời rạc hoặc kết dính lại tạo thành một mảng lớn trên bề mặt lá. Kích thước của vết bệnh thay đổi tùytheo mức độ mẫn cảm của giống.

Tác nhânVi khuẩn Xanthomonas campestris pv. Citri

Ðặc điểm phát triển: Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện mùa mưa, ẩm độ cao. Tốc độ lâylan khá nhanh qua nước mưa, nước tưới.

Phòng trừ:

 Ngăn chặn nguồn xâm nhiễm từ bên ngoài và qua vật liệu trồng, công nhân lao động, dụng cụ chăm sóc và nguồn nước tưới.
- Phân lô các giống riêng biệt theo khả năng kháng bệnh của từng giống để thuận lợi cho việc phòng trừ.
- Áp dụng các biện pháp xử lý đất và vật liệu trồng trước khi gieo trồng. Ðối với hạt, mắt ghép có thể xử lý bằng nước javel 1% chlore hoặc tính tương đương 350 ml nước javel với 3 lít nước sạch trong 20 phút hoặc xử lý bằngnước nóng ở 50o C trong 20 phút. 
- Duy trì chế độ phun thuốc định kỳ bằng các loại thuốc gốc đồng như Kasuran, Cocide. Ðể phòng trị bệnh mỗi khi cây ra đọt non, cắt bỏ và tiêu hủy các bộ phận bị bệnh để tránh lây lan.

5. Bệnh ghẻ hại cây có múi 

Bệnh ghẻ thường tấn công trên các chồi non của cây có múi, bệnh thường phổ biến trong vườn ươm ở mỗi đợt cây ra chồi non làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cây.
Triệu chứng:
Vết bệnh tạo thành nốt ghẻ trên lá, thường nhô cao ở một mặt của phiến lá. Chúng có màu xám nhạt, nhiều vết nhỏ thường liên kết lại làm cho lá bị nhăn nheo, biến dạng, cây kém phát triển và cằn cỗi.

Tác nhân: nấm Elsinoe fawceltii

Phòng trừ:
 Tránh gây thương tích cho cây con, vận chuyển.
 Khi cây bị thương nên xử lý bằng thuốc trừ nấm 
- Cần tiêu hủy ngay các bộ phận bị bệnh nặng để tránh lây lan.
 Nên kiểm tra thường xuyên để sớm phát hiện cây bệnh và phun thuốc hóa học ngay khi phát hiện bệnh, sử dụng một số loại thuốc đồng như Aliette, Ridomyl. 
- Dùng nấm đối kháng Trichoderma là một trong những biện pháp phòng trừ sinh học đáng chú ý.

6. Bệnh thán thư hại xoài: là một loại rất phổ biến trên xoài ở mọi giai đoạn. Bệnh thường tấn công trên các lá non, cành non, hoa và trái. Trên lá, vếtbệnh ban đầu là những đốm nhỏ màu nâu, có hình gần tròn hay bất định, vết bệnh về sau khô và rách. Bệnh làm lá biến dạng, nhăn nheo và rụng sớm. Ðốivới các lá non mới nhú, nếu bệnh tấn công, lá có thể bị thui đen và không pháttriển được. Trường hợp này sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng trên các chồi non của mắt ghép.

Tác nhân: nấm Collectotrichum gloeosporioides 
Phòng trừ:
 Mật độ cây trong vườn vừa phải, đảm bảo được độ thông thoáng.
- Tiêu hủy các bộ phận bị bệnh nặng để tránh lây lan
- Ngăn ngừa sự lây lan nguồn bệnh từ bên ngoài có thể thông qua mắtghép, gốc ghép, cành ghép.
- Vườn ươm cây giống không nên gần khu vực trồng xoài để hạn chế sự lây lan.
 Phun thuốc hóa học để quản lý bệnh vào các giai đoạn đặc biệt mẫn cảm ở các giai đoạn lá non và hình thành. Có thể phun phòng khi chồi bắt đầu hình thành.
 Chú ý phòng trừ các loại côn trùng gây hại trên lá như: châu chấu, bọ cánh cứng nhằm hạn chế vết thương do chúng gây ra. Có thể phối hợp phun thuốc trừ sâu và thuốc trừ nấm để phòng ngừa sâu bệnh hại.
- Cần phải luân phiên nhiều loại thuốc khác nhau để hạn chế tính kháng thuốc của nấm gây bệnh.

7. Bệnh khô đọt (Diplodia natalensis)

Bệnh thường thấy ở các cây con ghép, có thể làm khô đọt và chết câysau khi ghép.

Triệu chứng:

Trên cành tược xanh non có đốm sậm màu, lan dần lên, lá cũng bị biến màu nâu, bìa lá thường cuốn lên trên, đôi khi cũng thấy nhựa cây chảy ra trên cành bị bệnh. Chẻ dọc cành bệnh thấy bên trong có các sọc màu nâu do cácmạch dẫn nhựa bị hư, bệnh phát triển mạnh khi ẩm độ không khí cao và lâylan mạnh trong mùa mưa.

Tác nhân: do nấm Diplodia natalensis 

Phòng ngừa:
- Bệnh lây truyền từ cây mẹ bị nhiễm bệnh. Do đó, có thể ngăn ngừa nàynên chọn mắt ghép, cành ghép từ cây mẹ tốt, khỏe mạnh. Khi ghép cây cần vệ sinh, khử trùng dụng cụ ghép. Sau khi ghép cây, nên đặt cây trong điều kiện thoáng mát, và sau đó nhử nắng dần dần.

8. Phòng trừ bệnh và tương tự virus trong vườn ươm: Tiêu chuẩn cây con khi xuất vườn là phải sạch các bệnh virus và một sốbệnh hại quan trọng khác. Do đó, việc phòng trừ cây giống bị nhiễm bệnh dovirus là một yêu cầu bắt buộc.

Ðể phòng ngừa bệnh virus cho cây, cần chú ý thực hiện các nguyên tắc sau:

- Cây gốc ghép sạch bệnh: phần lớn các bệnh do virus gây ra thường ít truyền qua hạt. Do đó, các cây con gieo từ hạt nên được bảo vệ trong nhà lưới để tránh nhiễm bệnh virus do côn trùng truyền bệnh. Ngoài ra, các dụng cụ chăm sóc cây, dụng cụ chiết ghép cần phải được vệ sinh và sát trùng với nước javel để ngăn ngừa sự lây lan từ cây này sang cây khác. 
 Sử dụng vật liệu trồng sạch bệnh (gốc ghép, mắt ghép, cành ghép).
Ngày nay, kỹ thuật vi ghép và các biện pháp xét nghiệm bệnh virus và các tác nhân tương tự virus đang được phát triển để tạo ra và đảm bảo các vật liệu trồng trong vườn ươm sạch bệnh.