Rễ đu đủ mềm, giòn và yếu, khi bị ngập úng dễ bị thối, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển của cây.
Đu đủ không có rễ cái. Rễ cố định có tác dụng giữ cho cây vững chắc, thường ăn sâu vào đất 0,8-1m. Rễ hút rải đều ở tầng mặt 10-30cm, rất nhỏ, mang nhiều lông hút làm nhiệm vụ hút nước, chất dinh dưỡng cung cấp cho cây. Rễ đu đủ mềm, giòn và yếu; khi bị ngập úng dễ bị thối, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển của cây. Nếu bị úng kéo dài, cây có thể bị chết.Nếu trong đất trồng đu đủ thừa nước, cần áp dụng một số biện pháp sau:
Đào mương rộng để có đủ đất đắp lên luống cao cách mực nước ngầm cao nhất khoảng 60-70cm, thiết kế mặt luống hình mai rùa, xây dựng hệ thống thoát nước, không để nước đọng trong vườn khi có mưa lớn và kéo dài. Ở những nơi thường bị ảnh hưởng lũ lụt, phải lên luống thật cao, xây tường rào, bờ bao xung quanh để chủ động bơm nước ra khỏi vườn khi cần thiết.
Không nên đi lại nhiều trong vườn đu đủ đang bị ngập nước. Một số nơi bị úng ngập hằng năm, các nhà vườn có kinh nghiệm thường ươm đu đủ trên bầu, sọt; khi nước lũ rút, đất khô thì trồng nơi cố định, đu đủ sẽ cho thu hoạch sau gần một năm; khi lũ về thì phá bỏ. Trồng lại khi nước rút
Thứ Sáu, 19 tháng 5, 2017
Thứ Năm, 18 tháng 5, 2017
Trồng Nho làm rượu vang
Căn cứ điều kiện khí hậu, thời tiết, đất đai và nhu cầu tiêu thụ chúng tôi xin giới thiệu một số đặc điểm cơ bản hai giống nho làm rượu được tỉnh ta chọn trồng.
1. Giống Shiraz: Là giống nho làm rượu vang đỏ, thời gian từ trồng đến tạo cành 4-6 tháng, từ cắt cành đến thu hoạch khoảng 90 ngày; cây có sức sống mạnh, lá nhỏ phân thùy sâu, màu xanh đậm hơi nhám, có nhiều lông; có khả năng kháng sâu bệnh cao; chùm trái hình trụ dài, trái nhỏ 2-3 g, tròn, màu đỏ tím, số trái trên chùm nhiều 114-120 trái, năng suất cao 110-120 tạ/ha/vụ; độ Brix 15 -18, cắt cành được 3 vụ trong năm.
2. Giống Sauvignon Blanc: Là giống nho làm rượu vang trắng và Champagne, thời gian từ trồng đến tạo cành 4-6 tháng, từ cắt cành đến thu hoạch khoảng trên 90 ngày, cây có sức sống mạnh, lá nhỏ phân thùy sâu, màu xanh hơi nhạt có lông; có khả năng kháng sâu bệnh cao; chùm trái hình trụ, trái nhỏ 2-3 g, tròn, màu xanh vàng khi chín, số trái trên chùm nhiều 90-120 trái, năng suất 70-100 tạ/ha/vụ; độ Brix 15-18, cắt cành được 3 vụ trong năm.
I. Giai đoạn cây con
1.Chọn đất:
– Đất nhẹ từ cát pha đến thịt trung bình; diện tích tương đối lớn.
– Đất cao không úng nước mùa mưa và đủ nước tưới mùa khô.
2. Chuẩn bị đất:
– Đất được cày (cuốc) sâu 25-30 cm, bừa kỹ, phơi ải, sạch cỏ dại;
– Đánh hàng: Hàng cách hàng 2m, hố cách hố 1,6-1,8m, hố rộng 40cm, sâu 40cm. Cho vào hố hỗn hợp đất mặt + phân hữu cơ hoai mục + phân lân vi sinh + vôi bột theo tỷ lệ (100:10: 0,5: 0,5) trước trồng 15 -20 ngày.
3. Trồng
3.1.Thời vụ: Tốt nhất trồng từ cuối tháng 10 đến đầu tháng 2.
3.2. Mật độ- khoảng cách:
– Mật độ: Trồng dày, khoảng 2.700- 3.100 cây/ha;
– Khoảng cách: Hàng cách hàng: 2m, cây cách cây: 1,6-1,8m,
3.3. Kỹ thuật trồng ( trồng cây ươm trong bầu)
– Sửa hàng, đánh rãnh thẳng và bằng phẳng;
– Chuyển cây đến vị trí đã bón phân lót, đào hố sâu 25cm, xé bịch nilon cho bầu vào hố, lấp đất, nén chặt;
– Trồng vào chiều mát, và tưới nước sau trồng;
– Cắm cây choái, và buộc cây nho bằng dây mềm.
4. Chăm sóc:
4.1. Tưới nước: Trong giai đoạn này cây cần đủ ẩm; tùy điều kiện thời tiết 4-7 ngày tưới 1 lần; Khi tưới nước không để ngập mặt đất trên gốc.
4.2. Bón phân: 10-15 ngày sau trồng bắt đầu bón phân, bón 1 muỗng cà phê phân urê cho mỗi gốc lúc theo nước, sau đó cứ 10 ngày bón 1 lần, lượng bón tăng dần lên 2-3 muỗng cà phê lúc cây lớn.
4.3. Làm cỏ xới xáo: 20 ngày sau trồng tiến hành xới xáo làm cỏ và qua đất mép; sau 1 tháng tiến hành xới xáo, làm cỏ 1 lần; xới nhẹ trước khi bón phân, tưới nước để hạn chế mất phân, kích thích ra rễ.
4.4. Thường xuyên tỉa chồi nách, tỉa tua, buộc cây nho con vào cây choái.
5. Ghép :
– Khi cây nho cao 80-100 cm tiến hành ghép, áp dụng kỹ thuật ghép nêm ngọn, vị trí ghép cách gốc 50 cm, ghép vào sáng sớm hoặc chiều mát;
– Mắt ghép bảo đảm đúng giống, sạch bệnh; không ghép giống không rõ nguồn gốc.
6. Tạo cành
– Khi cây vượt giàn 10 cm, bấm ngọn sát mặt giàn tạo 2-3 cành cấp I to khỏe đều nhau; mỗi cành cấp I tạo 8-10 cành cấp II; cành cấp II dài khoảng 100 cm.
– Để các cành to khỏe đều nhau và phân bố đều trên mặt giàn nên bố trí cành cấp II thẳng góc với cành cấp I.
II. Giai đoạn thu hoạch:
1.Tạo luống:
Khi cây nho bước vào giai đoạn tạo cành cấp II, dùng cuốc vun hai mép hàng để tạo luống nho nổi; Lúc này phân bón và nước được đưa vào 2 bên mép rãnh cung cấp cấp cho cây.
2. Cắt cành:
– Các giống nho rượu có thời gian từ cắt cành đến thu hoạch khoảng 90 ngày, chọn thời điểm cắt cành sao tránh thời tiết bất lợi lúc nho ra bông, đậu trái;
– Tùy vụ, kỹ thuật cắt cành có khác nhau, để bộ khung cành không quá dài; vụ đông-xuân cắt cành già hơn các vụ khác trong năm.
3. Bón phân:
3.1. Lượng phân bón (cho 1 ha/vụ)
– Phân chuồng hoai mục:10- 20 tấn
– Vôi bột: 1.000 kg
– Phân đạm (urê): 500 kg
– Phân lân (Super Lân):1.000 kg
– Phân kali: 500 kg Tỷ lệ N:P2O5:K2O = 1:0,7:1,4 (Có thể thay thế bằng các loại phân hỗn hợp có hàm lượng tương đương).
3.2. Thời kỳ bón:
– Đợt 1: Sau thu hoạch 7-10 ngày, tiến hành làm cỏ, cuốc đảo đất để cắt các rễ già, thúc đẩy rễ non mọc ra; bón phân lót: 100% phân chuồng + 100% vôi + 20% đạm + 50% lân + 10% kali;
– Đợt 2: Sau cắt cành 7 ngày, xới xáo nhẹ lớp đất mặt, bón 20% đạm + 20% lân + 10% kali;
– Đợt 3: Sau cắt cành 30 ngày, bón 10% đạm + 20% lân + 10% kali;
-Đợt 4: Sau cắt cành 45 ngày, bón 30% đạm + 10% lân + 10% kali;
– Đợt 5: Sau cắt cành 55 ngày, bón 10% đạm + 20% kali;
– Đợt 6: Sau cắt cành 70 ngày, bón 10% đạm + 40% kali;
Bón phân kết hợp xới nhẹ đất để trộn phân vào đất và tưới nước. Ngoài ra, phun các loại phân vi lượng, làm ngọt trái… qua lá.
1. Giống Shiraz: Là giống nho làm rượu vang đỏ, thời gian từ trồng đến tạo cành 4-6 tháng, từ cắt cành đến thu hoạch khoảng 90 ngày; cây có sức sống mạnh, lá nhỏ phân thùy sâu, màu xanh đậm hơi nhám, có nhiều lông; có khả năng kháng sâu bệnh cao; chùm trái hình trụ dài, trái nhỏ 2-3 g, tròn, màu đỏ tím, số trái trên chùm nhiều 114-120 trái, năng suất cao 110-120 tạ/ha/vụ; độ Brix 15 -18, cắt cành được 3 vụ trong năm.
2. Giống Sauvignon Blanc: Là giống nho làm rượu vang trắng và Champagne, thời gian từ trồng đến tạo cành 4-6 tháng, từ cắt cành đến thu hoạch khoảng trên 90 ngày, cây có sức sống mạnh, lá nhỏ phân thùy sâu, màu xanh hơi nhạt có lông; có khả năng kháng sâu bệnh cao; chùm trái hình trụ, trái nhỏ 2-3 g, tròn, màu xanh vàng khi chín, số trái trên chùm nhiều 90-120 trái, năng suất 70-100 tạ/ha/vụ; độ Brix 15-18, cắt cành được 3 vụ trong năm.
I. Giai đoạn cây con
1.Chọn đất:
– Đất nhẹ từ cát pha đến thịt trung bình; diện tích tương đối lớn.
– Đất cao không úng nước mùa mưa và đủ nước tưới mùa khô.
2. Chuẩn bị đất:
– Đất được cày (cuốc) sâu 25-30 cm, bừa kỹ, phơi ải, sạch cỏ dại;
– Đánh hàng: Hàng cách hàng 2m, hố cách hố 1,6-1,8m, hố rộng 40cm, sâu 40cm. Cho vào hố hỗn hợp đất mặt + phân hữu cơ hoai mục + phân lân vi sinh + vôi bột theo tỷ lệ (100:10: 0,5: 0,5) trước trồng 15 -20 ngày.
3. Trồng
3.1.Thời vụ: Tốt nhất trồng từ cuối tháng 10 đến đầu tháng 2.
3.2. Mật độ- khoảng cách:
– Mật độ: Trồng dày, khoảng 2.700- 3.100 cây/ha;
– Khoảng cách: Hàng cách hàng: 2m, cây cách cây: 1,6-1,8m,
3.3. Kỹ thuật trồng ( trồng cây ươm trong bầu)
– Sửa hàng, đánh rãnh thẳng và bằng phẳng;
– Chuyển cây đến vị trí đã bón phân lót, đào hố sâu 25cm, xé bịch nilon cho bầu vào hố, lấp đất, nén chặt;
– Trồng vào chiều mát, và tưới nước sau trồng;
– Cắm cây choái, và buộc cây nho bằng dây mềm.
4. Chăm sóc:
4.1. Tưới nước: Trong giai đoạn này cây cần đủ ẩm; tùy điều kiện thời tiết 4-7 ngày tưới 1 lần; Khi tưới nước không để ngập mặt đất trên gốc.
4.2. Bón phân: 10-15 ngày sau trồng bắt đầu bón phân, bón 1 muỗng cà phê phân urê cho mỗi gốc lúc theo nước, sau đó cứ 10 ngày bón 1 lần, lượng bón tăng dần lên 2-3 muỗng cà phê lúc cây lớn.
4.3. Làm cỏ xới xáo: 20 ngày sau trồng tiến hành xới xáo làm cỏ và qua đất mép; sau 1 tháng tiến hành xới xáo, làm cỏ 1 lần; xới nhẹ trước khi bón phân, tưới nước để hạn chế mất phân, kích thích ra rễ.
4.4. Thường xuyên tỉa chồi nách, tỉa tua, buộc cây nho con vào cây choái.
5. Ghép :
– Khi cây nho cao 80-100 cm tiến hành ghép, áp dụng kỹ thuật ghép nêm ngọn, vị trí ghép cách gốc 50 cm, ghép vào sáng sớm hoặc chiều mát;
– Mắt ghép bảo đảm đúng giống, sạch bệnh; không ghép giống không rõ nguồn gốc.
6. Tạo cành
– Khi cây vượt giàn 10 cm, bấm ngọn sát mặt giàn tạo 2-3 cành cấp I to khỏe đều nhau; mỗi cành cấp I tạo 8-10 cành cấp II; cành cấp II dài khoảng 100 cm.
– Để các cành to khỏe đều nhau và phân bố đều trên mặt giàn nên bố trí cành cấp II thẳng góc với cành cấp I.
II. Giai đoạn thu hoạch:
1.Tạo luống:
Khi cây nho bước vào giai đoạn tạo cành cấp II, dùng cuốc vun hai mép hàng để tạo luống nho nổi; Lúc này phân bón và nước được đưa vào 2 bên mép rãnh cung cấp cấp cho cây.
2. Cắt cành:
– Các giống nho rượu có thời gian từ cắt cành đến thu hoạch khoảng 90 ngày, chọn thời điểm cắt cành sao tránh thời tiết bất lợi lúc nho ra bông, đậu trái;
– Tùy vụ, kỹ thuật cắt cành có khác nhau, để bộ khung cành không quá dài; vụ đông-xuân cắt cành già hơn các vụ khác trong năm.
3. Bón phân:
3.1. Lượng phân bón (cho 1 ha/vụ)
– Phân chuồng hoai mục:10- 20 tấn
– Vôi bột: 1.000 kg
– Phân đạm (urê): 500 kg
– Phân lân (Super Lân):1.000 kg
– Phân kali: 500 kg Tỷ lệ N:P2O5:K2O = 1:0,7:1,4 (Có thể thay thế bằng các loại phân hỗn hợp có hàm lượng tương đương).
3.2. Thời kỳ bón:
– Đợt 1: Sau thu hoạch 7-10 ngày, tiến hành làm cỏ, cuốc đảo đất để cắt các rễ già, thúc đẩy rễ non mọc ra; bón phân lót: 100% phân chuồng + 100% vôi + 20% đạm + 50% lân + 10% kali;
– Đợt 2: Sau cắt cành 7 ngày, xới xáo nhẹ lớp đất mặt, bón 20% đạm + 20% lân + 10% kali;
– Đợt 3: Sau cắt cành 30 ngày, bón 10% đạm + 20% lân + 10% kali;
-Đợt 4: Sau cắt cành 45 ngày, bón 30% đạm + 10% lân + 10% kali;
– Đợt 5: Sau cắt cành 55 ngày, bón 10% đạm + 20% kali;
– Đợt 6: Sau cắt cành 70 ngày, bón 10% đạm + 40% kali;
Bón phân kết hợp xới nhẹ đất để trộn phân vào đất và tưới nước. Ngoài ra, phun các loại phân vi lượng, làm ngọt trái… qua lá.
Thứ Tư, 17 tháng 5, 2017
Chăm sóc Quýt, Cam, Bưởi sau thu hoạch
– Tiến hành làm sạch cỏ dại, sau 25 – 30 ngày thu hoạch cắt tỉa các cành sâu bệnh, cành tược, khô héo, cành tăm hương, mọc không đúng hướng…
– Quét vôi vào gốc cây ngăn sự cư trú của sâu bệnh.
– Phòng trừ sâu bệnh bằng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp: bón phân đầy đủ, cân đối, kịp thời, bón đúng kỹ thuật, phun thuốc đúng lúc, đúng cách.
Với một số sâu bệnh hại như: sâu vẽ bùa, đục thân, sâu bướm, sâu nhớt, nhện đỏ, nhện vàng, nhất là bệnh vàng lá greening… phải thường xuyên theo dõi, quan sát phát hiện sớm để kịp thời ngăn chặn. Khi cây đã bị bệnh cần phải đào, đốt hủy, rắc vôi bột vào gốc cây bị hại.
Bón phân phục hồi và tưới nước: Đối với cây từ 3- 4 năm tuổi, bón 1 – 2kg AT1/gốc, cây 5- 6 năm tuổi bón 2- 3kg AT1/gốc, phân hữu cơ bón 20-50kg. Bón ngay sau khi thu hoạch, càng sớm càng tốt. Trước khi bón, đào đất chung quanh gốc tạo thành đường vành khuyên rộng 20-30cm, sâu 30-40cm theo đường chiếu vành tán cây, rải đều phân xuống và lấp đất lại.
– Thời kỳ kiến thiết (1-4 năm): Bón tập trung 1 đợt vào tháng 12 hoặc tháng 1 với lượng phân 20 – 25kg phân hữu cơ + 0,2kg sun phát đạm + 0,5kg super lân + 0,2kg kali sun phát.
– Vào thời kỳ thu quả: Bón 50kg phân chuồng + 1kg đạm + 1,2kg super lân + 0,5kg kali, chia ba lần bón:
+ Sau thu hoạch quả tháng 12 sang tháng 1: 50kg phân hữu cơ + 0,25kg super lân + 0,1kg kali.
+ Bón đón lộc xuân tháng 2 – 3: 0,6kg đạm + 0,6kg super lân + 0,25kg kali.
+ Bón thúc cành thu và nuôi quả tháng 6-7: 0,4kg đạm + 0,35kg super lân + 0,15kg kali.
– Cách bón:
+ Lần 1 (sau khi thu hoạch): bón theo vành mép tán, đào rãnh sâu 20cm, rộng 30cm. Các loại phân trộn đều cho vào rãnh lấp kín đất, tủ rơm giữ ẩm.
+ Bón thúc vào lần 2 và 3: trộn đều các loại phân hóa học rải đều trong vòng tán cây, với đảo sâu 4-5cm vùi đất lấp kín, tủ rơm rác giữ ẩm.
Bón phân xong tưới nước đều đặn, vừa phải cho phân tan để cây hấp thụ từ từ. Chú ý không nên tưới quá nhiều nước cho cây vì nếu thừa nước cây sẽ ra đọt non ảnh hưởng đến việc xử lý ra hoa.
– Cách tỉa cành và vệ sinh vườn : Cắt bỏ những cành già, cành sâu bệnh, cành vượt nằm bên trong tán, cành mọc sà dưới đất và cả những đoạn cành đã mang trái (dài 10-15cm). Cắt ngắn cỏ, chừa cỏ lại che phủ đất (hoặc che phủ bằng rơm rạ). Nếu trồng sát gốc cây thì dọn sạch cỏ, lá cây để mô được khô ráo. Cần tránh phủ sơ dừa sát gốc cây có múi để tránh lây lan bệnh Phytophthora. Các cành lá tỉa bỏ, trái hư, cỏ dại phải thu gom lại chôn lấp hoặc đốt bỏ.
– Nuôi dưỡng và bảo vệ : Định kỳ khoảng 10-15 ngày/lần, phun các chế phẩm HVP theo tỷ lệ: 30-10-10 (15g/8 lít nước) hoặc chế phẩm dưỡng lá (35ml/8 lít nước). Có thể pha chung với thuốc trừ sâu bệnh để phun xịt. Dưới gốc dùng vôi quét gốc, quét cao khoảng 1-1,5 m và rải vôi chung quanh các gốc cây, nhất là những cây bị bệnh. Nếu rễ cây bị tuyến trùng, rệp sáp tấn công có thể dùng Nokapd, Vimoca tưới vào gốc diệt, đồng thời pha thêm bột tốt rễ F.Bo để phục hồi bộ rễ nhanh, giúp cây sinh trưởng sung tốt trở lại.
Xử lý ra hoa
– Bón phân đón ra hoa, tạo mầm hoa: Trước thời điểm cho cây ra hoa 5-6 tuần, bón phân đón ra hoa (khoảng 200g DAP + 50KCL hoặc 400g AT 2/gốc 4-5 tuổi) và phun chế phẩm giúp cây tạo mầm hoa (phun F.Bo: 15g/8 lít, phun hai lần, cách nhau 4-5 ngày) trước khi ngưng tưới một tuần.
– Bắt cây cảm ứng ra hoa: Ngưng tưới và rút nước mương (nếu có) khoảng 2-4 tuần cho đến khi cây vừa “xào lá” (lá hơi héo vào buổi chiều nhưng sáng mai không tươi lại hoàn toàn). Sau đó tưới nước đẫm lại ba ngày liền, ngày tưới hai lần. Ngày thứ tư thì tưới mỗi ngày/lần.
– Phun thuốc thúc ra hoa đồng loạt: Sau khi tưới nước lại 2-3 ngày, bộ lá tươi lại, pha 35ml RA HOA C.A.T + 15g F.Bo/8 lít phun sương đều tán cây và trong thân cây hai lần (5 ngày/lần) thúc ra hoa đồng loạt, sau khi cây ra đọt non tưới hai ngày/lần.
– Quét vôi vào gốc cây ngăn sự cư trú của sâu bệnh.
– Phòng trừ sâu bệnh bằng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp: bón phân đầy đủ, cân đối, kịp thời, bón đúng kỹ thuật, phun thuốc đúng lúc, đúng cách.
Với một số sâu bệnh hại như: sâu vẽ bùa, đục thân, sâu bướm, sâu nhớt, nhện đỏ, nhện vàng, nhất là bệnh vàng lá greening… phải thường xuyên theo dõi, quan sát phát hiện sớm để kịp thời ngăn chặn. Khi cây đã bị bệnh cần phải đào, đốt hủy, rắc vôi bột vào gốc cây bị hại.
Bón phân phục hồi và tưới nước: Đối với cây từ 3- 4 năm tuổi, bón 1 – 2kg AT1/gốc, cây 5- 6 năm tuổi bón 2- 3kg AT1/gốc, phân hữu cơ bón 20-50kg. Bón ngay sau khi thu hoạch, càng sớm càng tốt. Trước khi bón, đào đất chung quanh gốc tạo thành đường vành khuyên rộng 20-30cm, sâu 30-40cm theo đường chiếu vành tán cây, rải đều phân xuống và lấp đất lại.
– Thời kỳ kiến thiết (1-4 năm): Bón tập trung 1 đợt vào tháng 12 hoặc tháng 1 với lượng phân 20 – 25kg phân hữu cơ + 0,2kg sun phát đạm + 0,5kg super lân + 0,2kg kali sun phát.
– Vào thời kỳ thu quả: Bón 50kg phân chuồng + 1kg đạm + 1,2kg super lân + 0,5kg kali, chia ba lần bón:
+ Sau thu hoạch quả tháng 12 sang tháng 1: 50kg phân hữu cơ + 0,25kg super lân + 0,1kg kali.
+ Bón đón lộc xuân tháng 2 – 3: 0,6kg đạm + 0,6kg super lân + 0,25kg kali.
+ Bón thúc cành thu và nuôi quả tháng 6-7: 0,4kg đạm + 0,35kg super lân + 0,15kg kali.
– Cách bón:
+ Lần 1 (sau khi thu hoạch): bón theo vành mép tán, đào rãnh sâu 20cm, rộng 30cm. Các loại phân trộn đều cho vào rãnh lấp kín đất, tủ rơm giữ ẩm.
+ Bón thúc vào lần 2 và 3: trộn đều các loại phân hóa học rải đều trong vòng tán cây, với đảo sâu 4-5cm vùi đất lấp kín, tủ rơm rác giữ ẩm.
Bón phân xong tưới nước đều đặn, vừa phải cho phân tan để cây hấp thụ từ từ. Chú ý không nên tưới quá nhiều nước cho cây vì nếu thừa nước cây sẽ ra đọt non ảnh hưởng đến việc xử lý ra hoa.
– Cách tỉa cành và vệ sinh vườn : Cắt bỏ những cành già, cành sâu bệnh, cành vượt nằm bên trong tán, cành mọc sà dưới đất và cả những đoạn cành đã mang trái (dài 10-15cm). Cắt ngắn cỏ, chừa cỏ lại che phủ đất (hoặc che phủ bằng rơm rạ). Nếu trồng sát gốc cây thì dọn sạch cỏ, lá cây để mô được khô ráo. Cần tránh phủ sơ dừa sát gốc cây có múi để tránh lây lan bệnh Phytophthora. Các cành lá tỉa bỏ, trái hư, cỏ dại phải thu gom lại chôn lấp hoặc đốt bỏ.
– Nuôi dưỡng và bảo vệ : Định kỳ khoảng 10-15 ngày/lần, phun các chế phẩm HVP theo tỷ lệ: 30-10-10 (15g/8 lít nước) hoặc chế phẩm dưỡng lá (35ml/8 lít nước). Có thể pha chung với thuốc trừ sâu bệnh để phun xịt. Dưới gốc dùng vôi quét gốc, quét cao khoảng 1-1,5 m và rải vôi chung quanh các gốc cây, nhất là những cây bị bệnh. Nếu rễ cây bị tuyến trùng, rệp sáp tấn công có thể dùng Nokapd, Vimoca tưới vào gốc diệt, đồng thời pha thêm bột tốt rễ F.Bo để phục hồi bộ rễ nhanh, giúp cây sinh trưởng sung tốt trở lại.
Xử lý ra hoa
– Bón phân đón ra hoa, tạo mầm hoa: Trước thời điểm cho cây ra hoa 5-6 tuần, bón phân đón ra hoa (khoảng 200g DAP + 50KCL hoặc 400g AT 2/gốc 4-5 tuổi) và phun chế phẩm giúp cây tạo mầm hoa (phun F.Bo: 15g/8 lít, phun hai lần, cách nhau 4-5 ngày) trước khi ngưng tưới một tuần.
– Bắt cây cảm ứng ra hoa: Ngưng tưới và rút nước mương (nếu có) khoảng 2-4 tuần cho đến khi cây vừa “xào lá” (lá hơi héo vào buổi chiều nhưng sáng mai không tươi lại hoàn toàn). Sau đó tưới nước đẫm lại ba ngày liền, ngày tưới hai lần. Ngày thứ tư thì tưới mỗi ngày/lần.
– Phun thuốc thúc ra hoa đồng loạt: Sau khi tưới nước lại 2-3 ngày, bộ lá tươi lại, pha 35ml RA HOA C.A.T + 15g F.Bo/8 lít phun sương đều tán cây và trong thân cây hai lần (5 ngày/lần) thúc ra hoa đồng loạt, sau khi cây ra đọt non tưới hai ngày/lần.
Thứ Ba, 16 tháng 5, 2017
Cách bón bùn ao cho cây chuối
Bùn ao là một sản phẩm tổng hợp của quá trình phân hủy các chất hữu cơ trong lá cây, cỏ rác, trong xác hoặc phân của động vật thủy sinh… do vậy thành phần dinh dưỡng của bùn ao khá phong phú và được coi như một loại phân hữu cơ có giá trị, vì thế bón bùn ao cho cây chuối hoặc những cây ăn trái khác là rất tốt.
Mặt khác bùn ao còn có một ưu điểm khác là phân giải từ từ, cung cấp chất dinh dưỡng dần dần và liên tục cho cây, giúp cây sinh trưởng và phát triển đều đều, không gây hiện tượng “no dồn đói góp” hoặc “bạo phát bạo tàn” như các loại phân vô cơ. Mặc dù tốt như vậy, nhưng nếu không biết cách bón thì có thể để lại những ảnh hưởng xấu cho cây.
Trong bùn ao luôn luôn có nước, khi được bồi lên trên mặt vườn một lớp tương đối dày như vậy thì đã có rất nhiều nước ngấm xuống mặt vườn (là vùng phân bố rễ của cây chuối), số nước này đã đẩy không khí tại chỗ ra ngoài, không những thế lớp bùn dày phía bên trên lại ngăn không cho không khí lưu thông xuống vùng rễ của cây chuối. Mà đối với đất trồng chuối thì các tế khổng trong đất phải chứa ít nhất từ 25-30% không khí thì rễ chuối mới phát triển được.
Nếu đất thiếu không khí, bộ rễ của cây chuối sẽ thiếu oxy để hô hấp, đồng thời còn bị ngộ độc khí CO2 từ rễ không thoát ra ngoài được, làm cho rễ bị nghẹt và hư thối. Hiện tượng nghẹt rễ còn làm cho cây bị stress sản sinh ra nhiều Ethylene bên trong gây ngộ độc cho cây.
Nếu tình trạng này kéo dài sẽ làm cho lá chuối bị vàng, buồng (quầy) chuối ngắn, nải đóng khít, trái nhỏ, ruột bị vàng… rễ chuối, củ chuối thối dần, không hút được nước và dinh dưỡng cung cấp cho cây, nếu không có biện pháp cứu chữa kịp thời có thể làm cho cây bị chết.
Để khắc phục tình trạng trên, nên vét bùn ao (hoặc mương vườn) vào mùa khô, rải bùn thành một lớp mỏng khoảng 3- 4cm lên mặt vườn và cách xa gốc cây chuối khoảng 0,5m (tuyệt đối không được đổ bùn đầy và trùm kín cả mặt vườn), hoặc rải bùn ở nơi khác chờ khi nào bùn khô rồi bóc lấy lớp bùn này đập nhỏ rải đều lên mặt vườn thành một lớp mỏng. Khi gặp mưa hoặc tưới nước chất dinh dưỡng trong bùn sẽ được hòa tan dần và cung cấp từ từ cho cây chuối, vườn chuối sẽ phát triển rất tốt.
Cách trồng Roi – trồng Mận
Đất trồng roi có độ mùn 2-2,5% trở lên, có tầng dày trên 50cm, tơi xốp, khả năng giữ ẩm tốt, dễ thoát nước.
I. Đào hố
Hố trồng có kích cỡ 60x60x60cm hoặc 50x60x70cm, hố cách hố 44m, mật độ 625 cây/ha. Hố đào xong bón lót mỗi hố 20-25kg phân chuồng hoai + 200g lân nung chảy + 100g sunphat kali + 300g vôi bột, trộn kỹ với đất và lấp đầy hố, để 1 tháng sau mới trồng.
II. Thời vụ
Trồng roi vào tháng 2-4 trước khi nảy lộc xuân và tháng 11-12 sau khi rụng lá. Khi trồng bới ở giữa hố, đặt bầu vào nén chặt xung quanh, tưới đẫm nước, dùng cỏ rác khô ủ xung quanh gốc cây.
III. Chăm sóc
– Tháng đầu nếu trời khô hanh phải tưới nước hàng ngày. Diệt cỏ, xới xáo quanh gốc.
– Mùa mưa chống ngập úng, mùa khô lạnh cần xới xáo, ủ gốc giữ ẩm cho cây.
– Cắt bỏ sớm các chồi dại từ phần cây gốc ghép, để tập trung dinh dưỡng cho mầm ghép sinh trưởng phát triển.
– Khi cây cao 1-1,2m bấm ngọn tạo ra 4-5 cành cơ bản. Năm sau lại bấm ngọn các cành để tạo cành thứ cấp.
IV. Bón phân
Roi dưới 4 năm tuổi bón phân mỗi năm 1 lần vào đầu năm: 15kg phân hữu cơ + 0,4kg supe lân + 0,3kg clorua kali, 0,5kg urê, riêng lượng urê chia bón làm 2 lần đầu và cuối năm.
Với vườn roi 4-10 năm tuổi bón 3 lần/năm, vào tháng 2-3, 6-7, 11-12, với lượng phân: đầu năm bón 0,4kg urê + 0,2kg clorua kali để cây nảy lộc, hoa và quả; giữa năm bón 0,4kg urê + 0,25kg clorua kali để cây hồi sức sau thu hoạch; cuối năm bón 20-30kg phân chuồng + 0,7kg supe lân + 0,15kg clorua kali giúp cây chuẩn bị ra hoa.
Với roi trên 10 năm cũng bón mỗi năm 3 lần, với lượng phân tăng gấp rưỡi hoặc gấp 2 lần tùy thực trạng vườn.
V. Phòng trừ sâu bệnh
Cây roi thường bị các loại sâu bệnh như: sâu cánh cứng ăn lá, sâu đục cành, rệp sáp, rệp muội, bọ xít, sâu non, bọ cánh vẩy hại đọt non, bệnh phấn trắng, bệnh chảy nhựa. Việc chăm sóc, bón phân, vệ sinh, quét vôi gốc… có tác dụng hạn chế tác hại của sâu bệnh cho vườn mận.
Sử dụng các loại thuốc như: Selecron 500ND pha 0,1%, Trebon 10EC pha 0,5-1% để diệt côn trùng, với nhện dùng Ortus 5SC pha 0,1%, với rệp sáp phun Supracid 20EC pha 0,1%.
I. Đào hố
Hố trồng có kích cỡ 60x60x60cm hoặc 50x60x70cm, hố cách hố 44m, mật độ 625 cây/ha. Hố đào xong bón lót mỗi hố 20-25kg phân chuồng hoai + 200g lân nung chảy + 100g sunphat kali + 300g vôi bột, trộn kỹ với đất và lấp đầy hố, để 1 tháng sau mới trồng.
II. Thời vụ
Trồng roi vào tháng 2-4 trước khi nảy lộc xuân và tháng 11-12 sau khi rụng lá. Khi trồng bới ở giữa hố, đặt bầu vào nén chặt xung quanh, tưới đẫm nước, dùng cỏ rác khô ủ xung quanh gốc cây.
III. Chăm sóc
– Tháng đầu nếu trời khô hanh phải tưới nước hàng ngày. Diệt cỏ, xới xáo quanh gốc.
– Mùa mưa chống ngập úng, mùa khô lạnh cần xới xáo, ủ gốc giữ ẩm cho cây.
– Cắt bỏ sớm các chồi dại từ phần cây gốc ghép, để tập trung dinh dưỡng cho mầm ghép sinh trưởng phát triển.
– Khi cây cao 1-1,2m bấm ngọn tạo ra 4-5 cành cơ bản. Năm sau lại bấm ngọn các cành để tạo cành thứ cấp.
IV. Bón phân
Roi dưới 4 năm tuổi bón phân mỗi năm 1 lần vào đầu năm: 15kg phân hữu cơ + 0,4kg supe lân + 0,3kg clorua kali, 0,5kg urê, riêng lượng urê chia bón làm 2 lần đầu và cuối năm.
Với vườn roi 4-10 năm tuổi bón 3 lần/năm, vào tháng 2-3, 6-7, 11-12, với lượng phân: đầu năm bón 0,4kg urê + 0,2kg clorua kali để cây nảy lộc, hoa và quả; giữa năm bón 0,4kg urê + 0,25kg clorua kali để cây hồi sức sau thu hoạch; cuối năm bón 20-30kg phân chuồng + 0,7kg supe lân + 0,15kg clorua kali giúp cây chuẩn bị ra hoa.
Với roi trên 10 năm cũng bón mỗi năm 3 lần, với lượng phân tăng gấp rưỡi hoặc gấp 2 lần tùy thực trạng vườn.
V. Phòng trừ sâu bệnh
Cây roi thường bị các loại sâu bệnh như: sâu cánh cứng ăn lá, sâu đục cành, rệp sáp, rệp muội, bọ xít, sâu non, bọ cánh vẩy hại đọt non, bệnh phấn trắng, bệnh chảy nhựa. Việc chăm sóc, bón phân, vệ sinh, quét vôi gốc… có tác dụng hạn chế tác hại của sâu bệnh cho vườn mận.
Sử dụng các loại thuốc như: Selecron 500ND pha 0,1%, Trebon 10EC pha 0,5-1% để diệt côn trùng, với nhện dùng Ortus 5SC pha 0,1%, với rệp sáp phun Supracid 20EC pha 0,1%.
Thứ Hai, 15 tháng 5, 2017
Bón phân cho cây Chuối
Cây Chuối là loại cây ăn quả được trồng lâu đời ở Việt Nam, song lại ít được chú ý đến bón phân nhất, chính vì thế năng suất chuối thường không cao, hiệu quả thấp. Tuy nhiên nếu muốn phát triển nghề trồng chuối với quy mô công nghiệp và xuất khẩu thì việc bón phân cho chuối cần phải quan tâm.
Trung bình với năng suất 32 tấn/ha, cây chuối lấy đi 80kg N, 49kg P2O5 và 1145kg K2O. Như vậy có thể thấy ngay rằng chuối là một trong số ít cây trồng có nhu cầu kali lớn nhất. Tuy nhiên, rễ, thân, lá và đặc biệt cuống buồng, vỏ quả chuối giữ một lượng dinh dưỡng rất lớn, nên trong điều kiện có thể nên trả lại tối đa các bộ phận này cho đất (rễ chứa 5-10%; thân: 10-12%… so với tổng lượng hút).
Cân đối đạm-kali cho chuối có tầm quan trọng đặc biệt, tuy nhiên tỷ lệ canxi và magiê cũng rất quan trọng vì chúng chi phối hiệu lực của kali. Một số thí nghiệm cho thấy bón cân đối NPK cho chuối làm tăng năng suất 26-27 tạ/ha hay 9-28% với hiệu suất 13,2-27,5kg chuối/kg K2O tùy theo liều lượng kali sử dụng. Tuy nhiên, lượng phân bón phù hợp nhất là 200kg N + 200kg K2O. Phân lân có thể bón 60-90kg P2O5 tùy theo loại đất. Bón vôi cũng là biện pháp có hiệu quả nếu đất chua.
Hiện tại, để đảm bảo chuối có phẩm chất tốt hơn, người ta còn phun kẽm và bo với lượng 5-10kg/ha (1-3 lần phun/vụ). Tuy nhiên, phun vi lượng cho chuối là biện pháp còn ít được áp dụng.
Ngoài tăng năng suất, bón phân cân đối cho chuối còn làm tăng đáng kể chất lượng chuối, làm tăng hàm lượng đường 0,5-1%, giảm nồng độ axit 0,1%, bảo quản chuối tốt hơn, hình dáng quả cũng như màu sắc đẹp hơn.
Thời kỳ bón cho chuối cũng rất quan trọng vì lượng phân bón lớn rất dễ bị mất do rửa trôi, bốc hơi… Thông thường, người ta phải chia ra bón với khoảng cách 2-3 tháng 1 lần, trong đó phân đạm cần bón sớm hơn, phân kali bón muộn và tập trung hầu hết vào thời kỳ trước và sau khi trỗ hoa để đảm bảo chuối đạt năng suất và chất lượng cao.
Phân hữu cơ là một loại phân rất tốt đồng thời góp phần cân đối dinh dưỡng cho chuối, nhất là tiết kiệm kali đáng kể. Tuy vậy, phân hữu cơ, dù với liều lượng thế nào cũng không thể thay thế được phân vô cơ.
Trung bình với năng suất 32 tấn/ha, cây chuối lấy đi 80kg N, 49kg P2O5 và 1145kg K2O. Như vậy có thể thấy ngay rằng chuối là một trong số ít cây trồng có nhu cầu kali lớn nhất. Tuy nhiên, rễ, thân, lá và đặc biệt cuống buồng, vỏ quả chuối giữ một lượng dinh dưỡng rất lớn, nên trong điều kiện có thể nên trả lại tối đa các bộ phận này cho đất (rễ chứa 5-10%; thân: 10-12%… so với tổng lượng hút).
Cân đối đạm-kali cho chuối có tầm quan trọng đặc biệt, tuy nhiên tỷ lệ canxi và magiê cũng rất quan trọng vì chúng chi phối hiệu lực của kali. Một số thí nghiệm cho thấy bón cân đối NPK cho chuối làm tăng năng suất 26-27 tạ/ha hay 9-28% với hiệu suất 13,2-27,5kg chuối/kg K2O tùy theo liều lượng kali sử dụng. Tuy nhiên, lượng phân bón phù hợp nhất là 200kg N + 200kg K2O. Phân lân có thể bón 60-90kg P2O5 tùy theo loại đất. Bón vôi cũng là biện pháp có hiệu quả nếu đất chua.
Hiện tại, để đảm bảo chuối có phẩm chất tốt hơn, người ta còn phun kẽm và bo với lượng 5-10kg/ha (1-3 lần phun/vụ). Tuy nhiên, phun vi lượng cho chuối là biện pháp còn ít được áp dụng.
Ngoài tăng năng suất, bón phân cân đối cho chuối còn làm tăng đáng kể chất lượng chuối, làm tăng hàm lượng đường 0,5-1%, giảm nồng độ axit 0,1%, bảo quản chuối tốt hơn, hình dáng quả cũng như màu sắc đẹp hơn.
Thời kỳ bón cho chuối cũng rất quan trọng vì lượng phân bón lớn rất dễ bị mất do rửa trôi, bốc hơi… Thông thường, người ta phải chia ra bón với khoảng cách 2-3 tháng 1 lần, trong đó phân đạm cần bón sớm hơn, phân kali bón muộn và tập trung hầu hết vào thời kỳ trước và sau khi trỗ hoa để đảm bảo chuối đạt năng suất và chất lượng cao.
Phân hữu cơ là một loại phân rất tốt đồng thời góp phần cân đối dinh dưỡng cho chuối, nhất là tiết kiệm kali đáng kể. Tuy vậy, phân hữu cơ, dù với liều lượng thế nào cũng không thể thay thế được phân vô cơ.
Chủ Nhật, 14 tháng 5, 2017
Cách trồng cây Cóc Thái tại nhà
Cây cóc Thái vốn dễ trồng lại siêng cho trái nên rất thích hợp trồng làm cây cảnh trong chậu tại nhà đô thị, bên cạnh đó cây cóc Thái còn cung cấp lá non có vị chua chua như rau sạch và trái cóc có thể dùng ăn sống hay làm thành món dưa chua rất hấp dẫn.
Cây cóc Thái có tên khoa học là Spondias mombin thuộc họ Điều Anacardiaceae, cây cóc Thái khác giống với cây cóc thường được trồng tại Việt Nam cho trái lớn hơn.
1. Nhân giống và đất trồng cây cóc Thái
Cây cóc Thái có thể trồng bằng hạt sau khi ăn trái chín nhưng cây sẽ lâu cho trái, người ta nhân giống bằng phương pháp chiết cành hay ghép cành sẽ cho cây giống ra hoa ra trái sau 6-8 tháng chăm sóc.
Cây cóc Thái thích hợp với nhiều loại đất khác nhau, chủ yếu đất trồng cây đảm bảo thoát nước tốt và có bổ sung thêm ít phân hữu cơ hoai mục như phân bò hoai, phân trùn quế…thì cây phát triển nhanh hơn, Có thể mua đất sạch hay giá thể bán sẵn trên thị trường hoa kiểng để trồng cây.
Chọn chậu trồng cây cóc tại nhà nên chọn chậu có kích thước miệng chậu từ 35-40 cm, cao từ 30-50 cm để cây cóc Thái có thể sinh trưởng lâu dài cho nhiều cành nhánh và cho nhiều trái.Nhớ dùng gạch hay gỗ kê đáy chậu trồng cây giúp thoát nước tốt.
2. Chăm sóc và bón phân cho cây cóc Thái trồng tại nhà
Vì cây trồng trong chậu nên cần tưới nước chậm để nước vào chậu đủ ngấm xuống dưới bộ rễ cây, đất trồng cây có đủ dinh dưỡng thì cây cóc Thái lớn lên rất nhanh và lá cây xanh mơn mởn trông rất thích. Nên tưới nước vào buổi sáng, nếu trời nắng gắt có thể tưới thêm vào buổi chiều.
Khoảng 1,5-2 tháng sau khi trồng cây cóc Thái vào chậu, rễ cây ra nhiều cần phải thêm đất vào mặt chậu lớp từ 2-3 cm, và rải thêm muỗng cà phê nhỏ phân hạt NPK 16.16.8 hoặc NPK 5.15.25 hay DAP vào xung quanh gốc cây rồi tưới đẫm nước ( có thể dùng luân phiên)
Bón định kỳ hai đợt như thế một tháng 2 đợt, một đợt đất mặt và đợt phân hạt.
Cây cóc Thái có thể trồng nơi nhiều ánh sáng hay nơi có ánh nắng một phần, cây đủ ánh nắng sẽ cho trái nhiều hơn.
3. Phòng trừ sâu bệnh cây cóc Thái trồng tại nhà
Cây cóc Thái ít khi bị sâu bệnh nhưng khi thiếu nước vì tưới không đủ, cây dễ bị rệp muội vào ngọn cây làm cho vàng lá và khô cành dần.
Trường hợp mưa kéo dài trời âm u thì dễ bị bọ hút chích làm xoắn lá non. Khi gặp các trường hợp trên không cần dùng thuốc trừ sâu mà dùng kéo bén cắt bỏ hết những nhánh bị hư cành khô, cách ly hết nguồn lây sâu bệnh, sau đó bón thêm ít phân trùn quế trộn với giá thể một lớp đất mặt 3-4 cm là cây lại cho nhánh lá mới.
Khi thu hái trái cóc Thái nhớ dùng kéo hay dao cắt hết trái trong chùm, sau đó cắt thu bớt nhánh cây đã cho trái để dưỡng sức cho cây cóc ra đợt trái mới.
Sau mỗi đợt hái trái nhớ bón thêm lớp đất mặt và phân hạt theo như hướng dẫn.
Cây cóc Thái có tên khoa học là Spondias mombin thuộc họ Điều Anacardiaceae, cây cóc Thái khác giống với cây cóc thường được trồng tại Việt Nam cho trái lớn hơn.
1. Nhân giống và đất trồng cây cóc Thái
Cây cóc Thái có thể trồng bằng hạt sau khi ăn trái chín nhưng cây sẽ lâu cho trái, người ta nhân giống bằng phương pháp chiết cành hay ghép cành sẽ cho cây giống ra hoa ra trái sau 6-8 tháng chăm sóc.
Cây cóc Thái thích hợp với nhiều loại đất khác nhau, chủ yếu đất trồng cây đảm bảo thoát nước tốt và có bổ sung thêm ít phân hữu cơ hoai mục như phân bò hoai, phân trùn quế…thì cây phát triển nhanh hơn, Có thể mua đất sạch hay giá thể bán sẵn trên thị trường hoa kiểng để trồng cây.
Chọn chậu trồng cây cóc tại nhà nên chọn chậu có kích thước miệng chậu từ 35-40 cm, cao từ 30-50 cm để cây cóc Thái có thể sinh trưởng lâu dài cho nhiều cành nhánh và cho nhiều trái.Nhớ dùng gạch hay gỗ kê đáy chậu trồng cây giúp thoát nước tốt.
2. Chăm sóc và bón phân cho cây cóc Thái trồng tại nhà
Vì cây trồng trong chậu nên cần tưới nước chậm để nước vào chậu đủ ngấm xuống dưới bộ rễ cây, đất trồng cây có đủ dinh dưỡng thì cây cóc Thái lớn lên rất nhanh và lá cây xanh mơn mởn trông rất thích. Nên tưới nước vào buổi sáng, nếu trời nắng gắt có thể tưới thêm vào buổi chiều.
Khoảng 1,5-2 tháng sau khi trồng cây cóc Thái vào chậu, rễ cây ra nhiều cần phải thêm đất vào mặt chậu lớp từ 2-3 cm, và rải thêm muỗng cà phê nhỏ phân hạt NPK 16.16.8 hoặc NPK 5.15.25 hay DAP vào xung quanh gốc cây rồi tưới đẫm nước ( có thể dùng luân phiên)
Bón định kỳ hai đợt như thế một tháng 2 đợt, một đợt đất mặt và đợt phân hạt.
Cây cóc Thái có thể trồng nơi nhiều ánh sáng hay nơi có ánh nắng một phần, cây đủ ánh nắng sẽ cho trái nhiều hơn.
3. Phòng trừ sâu bệnh cây cóc Thái trồng tại nhà
Cây cóc Thái ít khi bị sâu bệnh nhưng khi thiếu nước vì tưới không đủ, cây dễ bị rệp muội vào ngọn cây làm cho vàng lá và khô cành dần.
Trường hợp mưa kéo dài trời âm u thì dễ bị bọ hút chích làm xoắn lá non. Khi gặp các trường hợp trên không cần dùng thuốc trừ sâu mà dùng kéo bén cắt bỏ hết những nhánh bị hư cành khô, cách ly hết nguồn lây sâu bệnh, sau đó bón thêm ít phân trùn quế trộn với giá thể một lớp đất mặt 3-4 cm là cây lại cho nhánh lá mới.
Khi thu hái trái cóc Thái nhớ dùng kéo hay dao cắt hết trái trong chùm, sau đó cắt thu bớt nhánh cây đã cho trái để dưỡng sức cho cây cóc ra đợt trái mới.
Sau mỗi đợt hái trái nhớ bón thêm lớp đất mặt và phân hạt theo như hướng dẫn.
Thứ Sáu, 12 tháng 5, 2017
trồng Chanh giấy không hạt ít gai
1. Đặc điểm
Chanh giấy không hạt-ít gai là giống chanh được Công ty GINO nhập vào Việt Nam trong thời gian gần đây, rất được bà con nông dân ưa chuộng, do dễ trồng, cho năng suất cao. Có thân và quả gần giống chanh giấy truyền thống của Việt Nam, khi cành ở giai đoạn thành thục thì các gai bị thoái hoá, cây cho sai quả, một chùm cho 7-8quả. Năng suất rất cao từ 150-200kg quả/cây/năm, quả to, tròn, cơm màu trắng xanh, không hạt, vỏ mỏng, nhiều nước, chua, thơm …
2. Kỹ thuật trồng
2.1. Giống: Nên chọn cây chiết nhánh hay giâm cành, không sâu và sạch bệnh.
2.2. Mật độ:
– Cây cách cây 3m, hàng cách hàng 4m.
– Kích thước hốc trồng 0,6×0,6×0,6m.
– Nếu vùng đất thấp phải có hệ thống thủy lợi tưới tiêu hoàn chỉnh, đắp mô cao 0,5-0,6m, rộng 0,8-1m.
– Nếu vùng đất cao, mặt đất bằng phẳng đắp mô cao 0,3-0,8m, rộng 0,8-1m, mặt đất nghiêng <5% không vun mô.
2.3. Đất trồng: Trộn thêm vôi bột 1 kg + phân hữu cơ hoai mục 10-15kg + 10-15kg tro trấu hoai (hoặc bả dừa, bả đậu) + Super lân 1kg.
2.4. Cách trồng: Đào một hốc nhỏ giữa mô, đặt cây con vào hốc, tháo bao đựng bầu ra, lấp đất giữ chặt bầu cây, cắm cọc giữ cây cố định.
3. Kỹ thuật chăm sóc
3.1. Hạn chế ánh sáng: Trong thời gian đầu ta có thể trồng xen cây họ đậu vào trong vườn để hạn chế giông gió, đổ ngã và che bớt ánh sáng.
3.2. Giữ ẩm: Đậy phủ gốc cho cây vào mùa khô, nhằm hạn chế chi phí tưới nước, trong vườn nên để cỏ cao 20-40cm để hạn chế nắng nóng vào mùa khô và chống xói mòn hay tăng cường thoát nước trong đất vào mùa mưa.
3.3. Tưới nước: Cung cấp nước cho cây điều độ, muốn cây ra hoa, ngưng tưới cho khô gốc 20-30 ngày, sau đó tưới lại cây sẽ ra hoa.
3.4. Tỉa cành tạo tán: Hạn chế cành vượt, loại bỏ những cành già cỗi sâu bệnh, giúp cây thông thoáng, có dáng đẹp, tăng khả năng quang hợp và cây phát triển cân đối.
3.5. Bổ sung đất cho cây: Vào thời kỳ bón thúc cho cây nên cho thêm đất mới vào tán cây dầy 2-3cm cùng kết hợp việc bón phân hữu cơ hoai hay phân hóa học.
3.6. Bón phân:
– Phân hữu cơ hoai: 10-15kg/năm.
– Phân hóa học:
+Cây mới trồng đến 1 năm tuổi bón: 0,5kg Urê + 1kg Super lân + 0,2kg KCl, chia ra 4-5 lần bón/năm.
+ Cây thời kỳ kinh doanh sử dụng phân: 0,5-2kg Urê + 1,54kg Super lân + 0,3kg KCl, chia ra các lần bón như sau:
Sau khi thu hoạch quả: Bón 2/3 phân Lân và toàn bộ phân hữu cơ
Tiếp đó: Bón 1/3 phân lân + 1/4 phân Urê + 1/3 KCl.
Giai đoạn nuôi quả: Bón 1/4 phân urê.
Chanh giấy không hạt-ít gai là giống chanh được Công ty GINO nhập vào Việt Nam trong thời gian gần đây, rất được bà con nông dân ưa chuộng, do dễ trồng, cho năng suất cao. Có thân và quả gần giống chanh giấy truyền thống của Việt Nam, khi cành ở giai đoạn thành thục thì các gai bị thoái hoá, cây cho sai quả, một chùm cho 7-8quả. Năng suất rất cao từ 150-200kg quả/cây/năm, quả to, tròn, cơm màu trắng xanh, không hạt, vỏ mỏng, nhiều nước, chua, thơm …
2. Kỹ thuật trồng
2.1. Giống: Nên chọn cây chiết nhánh hay giâm cành, không sâu và sạch bệnh.
2.2. Mật độ:
– Cây cách cây 3m, hàng cách hàng 4m.
– Kích thước hốc trồng 0,6×0,6×0,6m.
– Nếu vùng đất thấp phải có hệ thống thủy lợi tưới tiêu hoàn chỉnh, đắp mô cao 0,5-0,6m, rộng 0,8-1m.
– Nếu vùng đất cao, mặt đất bằng phẳng đắp mô cao 0,3-0,8m, rộng 0,8-1m, mặt đất nghiêng <5% không vun mô.
2.3. Đất trồng: Trộn thêm vôi bột 1 kg + phân hữu cơ hoai mục 10-15kg + 10-15kg tro trấu hoai (hoặc bả dừa, bả đậu) + Super lân 1kg.
2.4. Cách trồng: Đào một hốc nhỏ giữa mô, đặt cây con vào hốc, tháo bao đựng bầu ra, lấp đất giữ chặt bầu cây, cắm cọc giữ cây cố định.
3. Kỹ thuật chăm sóc
3.1. Hạn chế ánh sáng: Trong thời gian đầu ta có thể trồng xen cây họ đậu vào trong vườn để hạn chế giông gió, đổ ngã và che bớt ánh sáng.
3.2. Giữ ẩm: Đậy phủ gốc cho cây vào mùa khô, nhằm hạn chế chi phí tưới nước, trong vườn nên để cỏ cao 20-40cm để hạn chế nắng nóng vào mùa khô và chống xói mòn hay tăng cường thoát nước trong đất vào mùa mưa.
3.3. Tưới nước: Cung cấp nước cho cây điều độ, muốn cây ra hoa, ngưng tưới cho khô gốc 20-30 ngày, sau đó tưới lại cây sẽ ra hoa.
3.4. Tỉa cành tạo tán: Hạn chế cành vượt, loại bỏ những cành già cỗi sâu bệnh, giúp cây thông thoáng, có dáng đẹp, tăng khả năng quang hợp và cây phát triển cân đối.
3.5. Bổ sung đất cho cây: Vào thời kỳ bón thúc cho cây nên cho thêm đất mới vào tán cây dầy 2-3cm cùng kết hợp việc bón phân hữu cơ hoai hay phân hóa học.
3.6. Bón phân:
– Phân hữu cơ hoai: 10-15kg/năm.
– Phân hóa học:
+Cây mới trồng đến 1 năm tuổi bón: 0,5kg Urê + 1kg Super lân + 0,2kg KCl, chia ra 4-5 lần bón/năm.
+ Cây thời kỳ kinh doanh sử dụng phân: 0,5-2kg Urê + 1,54kg Super lân + 0,3kg KCl, chia ra các lần bón như sau:
Sau khi thu hoạch quả: Bón 2/3 phân Lân và toàn bộ phân hữu cơ
Tiếp đó: Bón 1/3 phân lân + 1/4 phân Urê + 1/3 KCl.
Giai đoạn nuôi quả: Bón 1/4 phân urê.
Thứ Năm, 11 tháng 5, 2017
Kinh nghiệm trồng cây Bưởi Năm roi cuống xéo
Trong những ngày cận Tết Nguyên đán, chúng tôi đến vườn bưởi năm roi của anh Phan Văn Dũng, 51 tuổi, ở Ấp Phú Thành, xã Quới Thành, huyện Châu Thành, Bến Tre, chúng tôi bắt gặp thương lái đang vội vã chuẩn bị cho chuyến hàng cuối cùng trong năm về TP.Hồ Chí Minh. Trên mảnh vườn 0,5 ha của mình, anh cựu chiến binh Nguyễn Thành Phan chỉ trồng cây bưởi năm roi cuống xéo.
Năm nay, vườn bưởi nhà anh Dũng đã được 4 năm tuổi. Những trái to treo lủng lẳng, đều đặn và vàng mơ, trông rất bắt mát, đã phần nào lý giải vì sao giống bưởi này bán rất chạy trong những ngày Tết.
Anh Dũng là người gốc ở Quận 6 TP. Hồ Chí Minh. Những ngày trong quân ngũ, theo bước chân rày đây mai đó khắp các miền quê, bắt gặp những vườn cây ăn trái của bà con, anh Dũng rất mê thích và ấp ủ trong lòng. Sau khi trở về đời thường vào năm 1976, anh đã bén duyên với một cô gái ở xứ dừa Bến Tre. Với tấm lòng say mê nông nghiệp, mà sống ở thành phố thì không có đất “dụng võ”, nên vợ chồng khăn gói về quê Bến Tre.
Chân ướt, chân ráo, nhìn miếng vườn tạp của cha mẹ vợ cho, anh Dũng quyết định chuyển đổi cây trồng. Anh lặn lội đi tham quan những nhà vườn đã thành công để học hỏi, và rồi cuối cùng quyết định chọn mua cây bưởi năm roi cuống xéo ở huyện Bình Minh, Vĩnh Long, về trồng. Anh Dũng cho biết: “Giống bưởi này có chất lượng ngon không thua gì bưởi da xanh, nhưng lại có ưu điểm là khi chín có màu vàng trông rất bắt mắt.”
Về cách trồng, đầu tiên đắp mô cao khỏi mặt đất 0,2m, đào hố vuông mỗi cạnh 0,8m, sâu 0,4m, các hố cách đều nhau 3m. Trước khi trồng, chuẩn bị rơm, rác mục, phân chuồng hoai và đất phù sa khô tán nhuyễn trộn lẫn với một ít thuốc sát trùng, sau đó cho tất cả vào hố. Đến đầu mùa mưa, đưa cành chiết vào hố trồng, dùng cây chống đỡ và cột chặt nhánh chiết nhằm giữ cho cây khỏi lung lay, giúp cho rễ non dễ bung bám đất. Sau khi đã trồng nhánh chiết xong, anh Dũng bắt đầu chọn cây chuối cao tàn và rễ ít trồng xen rải thưa trong vườn. Cây chuối sẽ tạo bóng râm che mát cây bưởi lúc còn nhỏ vào mùa nắng. Sang năm thứ 3, cây chuối sẽ được phá bỏ hoàn toàn để cho cây bưởi được thông thoáng, bung tàn.
Về cách chăm sóc, để tránh cho cây bưởi khỏi bị mất nước, cứ 2 hoặc 3 ngày anh Dũng tưới nước 1 lần. Sau đó, anh vô phân theo định kì 4 tháng 1 lần, chủ yếu là phân chuồng hoai và tưới nhữ thêm NPK 20-20-0 theo công thức 1 muỗng canh cho 10 lít nước tưới vào gốc, sáng hôm sau tưới xả. Cũng theo định kỳ như trên, anh Dũng phun thêm phân bón lá giúp cho bưởi phát triển nhanh. Trong thời gian chăm sóc cây bưởi, anh Dũng luôn luôn theo dõi cây để kịp thời phun thuốc trừ sâu, rầy (nếu có sâu vẽ bùa trên lá thì phun thuốc Confidor, còn rầy nhớt xuất hiện trên đọt non thì xịt Actara).
Để trái bưởi chín đúng dịp Tết, theo kinh nghiệm của anh Dũng thì, sau khi thu hoạch trái, tiến hành dọn tỉa cành, bón phân (phân chuồng, phân NPK-AT1) và tưới nước thường xuyên cho cây bắt phân. Sang tháng 2 âm lịch, ngưng tưới nước 1 tháng cho cây xào lá, rồi bón phân NPK-AT2 hơi đậm (mạnh tay), sau đó tiếp tục tưới nước trở lại. Sau 1 tháng, bưởi bắt đầu đâm bông kết trái.
Khi trái bằng quả chanh, anh Dũng bón tiếp phân NPK-AT3 để nuôi trái. Theo anh Dũng, khi cây nuôi trái thì không nên rải phân đạm nhiều, vì nhiều phân đạm sẽ làm cho trái mất độ ngọt ăn không ngon. Nên rải kèm với kali. Thời gian bưởi ra trái, trong vườn nên treo rải rác thuốc Vizubon để diệt ruồi vàng (loại ruồi này hút nhựa trái gây ghẻ không bán được).
Năm vừa qua, tuy chưa cho trái rộ, nhưng vườn bưởi của anh Dũng cũng đã cho thu hoạch 1 tấn trái (giá 10.000đ/kg). Chắc chắn trong những năm tiếp theo, anh Dũng sẽ còn thu nhập cao hơn gấp nhiều lần.
Năm nay, vườn bưởi nhà anh Dũng đã được 4 năm tuổi. Những trái to treo lủng lẳng, đều đặn và vàng mơ, trông rất bắt mát, đã phần nào lý giải vì sao giống bưởi này bán rất chạy trong những ngày Tết.
Anh Dũng là người gốc ở Quận 6 TP. Hồ Chí Minh. Những ngày trong quân ngũ, theo bước chân rày đây mai đó khắp các miền quê, bắt gặp những vườn cây ăn trái của bà con, anh Dũng rất mê thích và ấp ủ trong lòng. Sau khi trở về đời thường vào năm 1976, anh đã bén duyên với một cô gái ở xứ dừa Bến Tre. Với tấm lòng say mê nông nghiệp, mà sống ở thành phố thì không có đất “dụng võ”, nên vợ chồng khăn gói về quê Bến Tre.
Chân ướt, chân ráo, nhìn miếng vườn tạp của cha mẹ vợ cho, anh Dũng quyết định chuyển đổi cây trồng. Anh lặn lội đi tham quan những nhà vườn đã thành công để học hỏi, và rồi cuối cùng quyết định chọn mua cây bưởi năm roi cuống xéo ở huyện Bình Minh, Vĩnh Long, về trồng. Anh Dũng cho biết: “Giống bưởi này có chất lượng ngon không thua gì bưởi da xanh, nhưng lại có ưu điểm là khi chín có màu vàng trông rất bắt mắt.”
Về cách trồng, đầu tiên đắp mô cao khỏi mặt đất 0,2m, đào hố vuông mỗi cạnh 0,8m, sâu 0,4m, các hố cách đều nhau 3m. Trước khi trồng, chuẩn bị rơm, rác mục, phân chuồng hoai và đất phù sa khô tán nhuyễn trộn lẫn với một ít thuốc sát trùng, sau đó cho tất cả vào hố. Đến đầu mùa mưa, đưa cành chiết vào hố trồng, dùng cây chống đỡ và cột chặt nhánh chiết nhằm giữ cho cây khỏi lung lay, giúp cho rễ non dễ bung bám đất. Sau khi đã trồng nhánh chiết xong, anh Dũng bắt đầu chọn cây chuối cao tàn và rễ ít trồng xen rải thưa trong vườn. Cây chuối sẽ tạo bóng râm che mát cây bưởi lúc còn nhỏ vào mùa nắng. Sang năm thứ 3, cây chuối sẽ được phá bỏ hoàn toàn để cho cây bưởi được thông thoáng, bung tàn.
Về cách chăm sóc, để tránh cho cây bưởi khỏi bị mất nước, cứ 2 hoặc 3 ngày anh Dũng tưới nước 1 lần. Sau đó, anh vô phân theo định kì 4 tháng 1 lần, chủ yếu là phân chuồng hoai và tưới nhữ thêm NPK 20-20-0 theo công thức 1 muỗng canh cho 10 lít nước tưới vào gốc, sáng hôm sau tưới xả. Cũng theo định kỳ như trên, anh Dũng phun thêm phân bón lá giúp cho bưởi phát triển nhanh. Trong thời gian chăm sóc cây bưởi, anh Dũng luôn luôn theo dõi cây để kịp thời phun thuốc trừ sâu, rầy (nếu có sâu vẽ bùa trên lá thì phun thuốc Confidor, còn rầy nhớt xuất hiện trên đọt non thì xịt Actara).
Để trái bưởi chín đúng dịp Tết, theo kinh nghiệm của anh Dũng thì, sau khi thu hoạch trái, tiến hành dọn tỉa cành, bón phân (phân chuồng, phân NPK-AT1) và tưới nước thường xuyên cho cây bắt phân. Sang tháng 2 âm lịch, ngưng tưới nước 1 tháng cho cây xào lá, rồi bón phân NPK-AT2 hơi đậm (mạnh tay), sau đó tiếp tục tưới nước trở lại. Sau 1 tháng, bưởi bắt đầu đâm bông kết trái.
Khi trái bằng quả chanh, anh Dũng bón tiếp phân NPK-AT3 để nuôi trái. Theo anh Dũng, khi cây nuôi trái thì không nên rải phân đạm nhiều, vì nhiều phân đạm sẽ làm cho trái mất độ ngọt ăn không ngon. Nên rải kèm với kali. Thời gian bưởi ra trái, trong vườn nên treo rải rác thuốc Vizubon để diệt ruồi vàng (loại ruồi này hút nhựa trái gây ghẻ không bán được).
Năm vừa qua, tuy chưa cho trái rộ, nhưng vườn bưởi của anh Dũng cũng đã cho thu hoạch 1 tấn trái (giá 10.000đ/kg). Chắc chắn trong những năm tiếp theo, anh Dũng sẽ còn thu nhập cao hơn gấp nhiều lần.
Thứ Tư, 10 tháng 5, 2017
Cách trồng xoài thái lan
Trọng lượng trung bình của trái 0,35-0,4kg/trái. Trái tròn dài, hơi cong ở phía đuôi, vỏ xanh đậm có thể ăn xanh, chín đều rất ngon.
I. Kỹ thuật trồng và chăm sóc:
1. Thời vụ:
– Vụ Xuân: Trồng vào tháng 2 – 3; Vụ Thu: Trồng vào tháng 8 – 10.
2. Mật độ, khoảng cách:
Có thể trồng thưa, dày khác nhau tuỳ điều kiện đất đai, khả năng thâm canh, kỹ thuật cắt tỉa cành, duy trì độ lớn khung tán, xử lý ra hoa… Mật độ trồng trung bình từ 300-350 cây/ha (6m x 5m); trồng dày khoảng cách (4 x 5m hoặc 3 x 3,5m) mật độ 500 – 950 cây/ha.
3. Cách trồng:
+ Đào hố: Đào hố vuông, rộng 70 – 80 cm, sâu 50 – 70 cm.
+ Bón phân lót cho 1 hố: 20 – 30kg phân chuồng mục + 1- 2kg super lân + 0,1kg Kali + 0,3-0,5kg vôi bột. Trộn đều phân với đất, lấp bằng miệng hố (công việc này làm xong trước khi trồng khoảng 1 tháng).
+ Cách trồng: Đào một hốc nhỏ ở chính giữa hố, rạch bỏ túi bầu ni lon và đặt bầu cây vào giữa hố, lấp đất vừa bằng cổ rễ, nén chặt xung quanh. Sau đó cắm 2 cọc chéo chữ X vào cây và buộc để tránh lay gốc làm chết cây. Sau trồng 1 tháng cây ổn định, rạch nilon ở vết ghép để cây sinh trưởng, phát triển.
4. Chăm sóc.
* Tưới nước:
Cần phải tưới nước sau trồng. Trời nắng hạn tưới 1 lần/ngày, đến khi cây hồi phục sinh trưởng. Sau đó tuỳ điều kiện thời tiết và sinh trưởng để tưới.
* Bón phân.
– Cây còn non: Bón phân NPK, mỗi cây 0,3 – 0,5 kg, bón tăng dần theo tuổi lớn của cây. Cây cho thu hoạch quả: Mỗi cây bón 1,5 – 2,0kg phân NPK. Bón 2 lần bón/năm chủ yếu khi xoài ra hoa và sau thu hoạch quả. Để giúp cho cây ra hoa đều, tăng tỷ lệ giữ quả; có thể dùng chất kích thích ra hoa, đậu quả.
Cách bón: Đào rãnh hoặc hốc sâu 15- 20 cm xung quanh tán cây, rắc phân lấp đất, tưới đẫm nước.
* Cắt tỉa, tạo hình.
Bắt đầu cắt tỉa cành khi cây được 1 năm tuổi, để lại 2 – 3 cành tạo tán cây phát triển cân đối. Mỗi năm cắt tỉa một lần vào thời kỳ sau khi thu hoạch quả, cắt bỏ hết cành tăm, cành sâu bệnh, tạo cho tán cây luôn có độ thông thoáng, cân đối.
I. Kỹ thuật trồng và chăm sóc:
1. Thời vụ:
– Vụ Xuân: Trồng vào tháng 2 – 3; Vụ Thu: Trồng vào tháng 8 – 10.
2. Mật độ, khoảng cách:
Có thể trồng thưa, dày khác nhau tuỳ điều kiện đất đai, khả năng thâm canh, kỹ thuật cắt tỉa cành, duy trì độ lớn khung tán, xử lý ra hoa… Mật độ trồng trung bình từ 300-350 cây/ha (6m x 5m); trồng dày khoảng cách (4 x 5m hoặc 3 x 3,5m) mật độ 500 – 950 cây/ha.
3. Cách trồng:
+ Đào hố: Đào hố vuông, rộng 70 – 80 cm, sâu 50 – 70 cm.
+ Bón phân lót cho 1 hố: 20 – 30kg phân chuồng mục + 1- 2kg super lân + 0,1kg Kali + 0,3-0,5kg vôi bột. Trộn đều phân với đất, lấp bằng miệng hố (công việc này làm xong trước khi trồng khoảng 1 tháng).
+ Cách trồng: Đào một hốc nhỏ ở chính giữa hố, rạch bỏ túi bầu ni lon và đặt bầu cây vào giữa hố, lấp đất vừa bằng cổ rễ, nén chặt xung quanh. Sau đó cắm 2 cọc chéo chữ X vào cây và buộc để tránh lay gốc làm chết cây. Sau trồng 1 tháng cây ổn định, rạch nilon ở vết ghép để cây sinh trưởng, phát triển.
4. Chăm sóc.
* Tưới nước:
Cần phải tưới nước sau trồng. Trời nắng hạn tưới 1 lần/ngày, đến khi cây hồi phục sinh trưởng. Sau đó tuỳ điều kiện thời tiết và sinh trưởng để tưới.
* Bón phân.
– Cây còn non: Bón phân NPK, mỗi cây 0,3 – 0,5 kg, bón tăng dần theo tuổi lớn của cây. Cây cho thu hoạch quả: Mỗi cây bón 1,5 – 2,0kg phân NPK. Bón 2 lần bón/năm chủ yếu khi xoài ra hoa và sau thu hoạch quả. Để giúp cho cây ra hoa đều, tăng tỷ lệ giữ quả; có thể dùng chất kích thích ra hoa, đậu quả.
Cách bón: Đào rãnh hoặc hốc sâu 15- 20 cm xung quanh tán cây, rắc phân lấp đất, tưới đẫm nước.
* Cắt tỉa, tạo hình.
Bắt đầu cắt tỉa cành khi cây được 1 năm tuổi, để lại 2 – 3 cành tạo tán cây phát triển cân đối. Mỗi năm cắt tỉa một lần vào thời kỳ sau khi thu hoạch quả, cắt bỏ hết cành tăm, cành sâu bệnh, tạo cho tán cây luôn có độ thông thoáng, cân đối.
Thứ Hai, 8 tháng 5, 2017
trồng và chăm sóc vườn Lê
Đất trồng lê được cày sâu 25 – 30cm, hố được chuẩn bị trước 1 đến 2 tháng, kích thước hố 50 x 50 x 60cm, bón lót 30 – 40 kg phân chuồng hoai, 1 kg super lân, 0,2 kg vôi bột, 0,1kg kali. Trộn đều phân với đất mặt và lấp đầy hố. Hố đào cách nhau 5 x 5m hoặc 5 x 7m
Khi trồng, cuốc 1 hốc vừa bằng bầu cây ở chính giữa hố, mặt bầu đặt cao hơn mặt hố 5-6cm, chèn đất chặt xung quanh, tưới đẫm nước. Tùy theo địa hình mà trồng thẳng cả hàng dọc và hàng ngang. Tuần đầu, nếu không mưa thì tưới hàng ngày, sau đó vài ngày tưới 1 lần tùy theo thời tiết.
Năm đầu bón thúc 0,3 – 0,4kg urê cho 1 cây. Từ năm thứ 2 đến khi cây có hoa bói, bón hàng năm cho 1 cây 20 – 30 kg phân chuồng, 1 kg super lân, 0,7kg ure, 0,5kg kali vào đầu năm. Khi cây cho thu hoạch hàng năm bón cho 1 cây 30 – 40kg phân chuồng, 1,5 super lân, 1 kg ure, 1kg kali và chia ra làm 2 lần: đón hoa và sau thu hoạch.
Những năm đầu, cần thường xuyên tạo tán cho cây lên, để cây có tán tròn, các cành hướng về các phía, cân đối.
Loại bỏ các cành vô hiệu, các cành tăm, cành ở giữa khung tán. Kịp thời cắt bỏ những chồi dại mọc từ gốc ghép, các cành vượt ở thân chính.
Hàng năm, khi cây lê trút hết lá để qua đông, cần tiến hành các biện pháp vệ sinh cho vườn lê. Cắt bỏ các cành khô, cành bị sâu bệnh. Thu dọn các cành lá sâu bệnh để đốt.
Quan sát trên thân và cành lớn, nếu có dấu hiệu sâu đục thân, đục cành, gặm vỏ thì khoét rộng lỗ đục của sâu để bơm thuốc hoặc luồn dây kẽm diệt sâu.
Bới lớp đất xung quanh gốc để phát hiện nấm bệnh hại vỏ ở cổ rễ. Nếu có thì dùng dao sắc gọt vỏ và quét Boóc đô đặc 10% hoặc phun Aliette.
Trong quá trình sinh trưởng, cây lê thường bị sâu ăn lá, sâu cuốn lá, sâu đục quả, đục thân. Đối với các loại côn trùng này có thể phun Padan 25SP pha 0,05 – 0,1%, hoặc ofatox 50EC pha 0,05%. Cây lê có thể bị các loại rệp muội, rệp sáp, rệp vảy vỏ và nhện đỏ hại lá, có thể phun supracid 20EC pha 0,1% hoặc selecron 500ND pha 0,1%
Các loại bệnh hại lá và quả lê có nấm gây đốm xám hoặc nấm phấn trắng… cần phun tilt super 300ND pha 0,1%. Trên cành to và thân nếu có hiện tượng chảy nhựa thì cạo sạch vết bệnh và xử lý bằng aliette 80WP pha 0,2%.
Chủ Nhật, 7 tháng 5, 2017
Hướng dẫn kĩ thuật trồng Đu Đủ
Đu đủ – Carica papaya, cây ăn quả, họ Đu đủ – Caricaceae. Thân trụ, cao 8 – 10 m, không phân nhánh, mang một chùm lá ở ngọn. Lá to, mọc cách, không có lá kèm, cuống dài, rỗng, gân lá hình chân vịt, phiến chia 8 – 9 thuỳ sâu. Hoa vàng nhạt, mọc thành chùm ở kẽ lá, hoa thường đơn tính khác gốc nhưng có khi tạp tính (cùng một gốc có cả hoa đực, cái và lưỡng tính). Quả mọng, ruột rỗng, mang nhiều hạt. Cây có nhiều ống nhựa mủ chứa chất papain, có thể có ancaloit là cacpain.
1. Một số giống và kỹ thuật chọn giống Đu đủ
1.1 Giống
Đu đủ có nhiều loại giống khác nhau nhưng phổ biến nhất là các giống sau:
– Giống Hong Kong da bông: Cho năng suất cao, trọng lượng trái trung bình từ 2,5-3kg, vỏ dày, chống chịu khá với nhện đỏ và các bệnh do Virus. Thịt trái có màu vàng, hàm lượng đường từ 9-10%.
– Giống Đài Loan tím: Năng suất rất cao, trái nhiều, trọng lượng trái từ 1,2-1,5 kg. Thịt trái có màu đỏ tím, chắc thịt. Hàm lượng đường từ 10-11%. Cây dễ bị nhện đỏ và các bệnh do Virus, nhưng vẫn có khả năng cho trái tốt trong những năm đầu.
– Giống EKSOTIKA: Cho phẩm chất ngon, thịt trái màu đỏ tía, chắc thịt, tươi đẹp, hàm lượng đường 13-14%, trọng lượng trái 0,5-1kg.
– Giống Sola: Có đặc điểm gần giống như EKSOTIKA nhưng thịt trái chắc hơn, thơm ngon hơn, hàm lượng đường 15-17%, trọng lượng trái 300-500g
– Giống Hồng Phi 786: Cây phát triển rất khỏe, cây có trái sớm, cây có trái đầu tiên lúc cây cao khoảng 80cm. Tỷ lệ đậu trái cao, một mùa 1 cây có thể đậu 30 trái trở lên, sản lượng rất cao. Trái lớn, trọng lượng trái từ 1,5-2Kg (có thể đạt 3kg/trái). Cây cái ra trái hình bầu dục, cây lưỡng tính cho trái dài. Da nhẵn bóng, thịt dày màu đỏ tươi, hàm lượng đường 13-14%, dễ vận chuyển.
1.2. Chọn giống
Tháp hay giâm cành đu đủ đều trồng được cả, nhưng trồng bằng hột thì dễ dàng và tiện lợi hơn vì trái đu đủ nhiều hột, mà hột lại tồn trữ dễ dàng. Hột vẫn còn nẩy mầm sau ba năm nếu đựơc tồn trữ nơi khô ráo và mát mẻ. Gieo hột càng tươi càng tốt.
– Chọn hạt: Từ trái thon dài, phát triển tốt trên cây mẹ khỏe, sạch sâu bệnh, trái phải đủ độ già trên cây, chỉ lấy những hạt đen ở giữa trái thả vào nước, vớt những hạt nổi bỏ đi, chỉ dùng những hạt chìm làm giống.
– Xử lý hạt: Vớt những hạt nổi bỏ đi, những hạt chìm làm giống có thể ngâm xâm xấp nước 1-2 ngày đêm trong chậu men, sau đó đãi sạch chất keo, chất nhớt bám vào hạt, chà tróc vỏ lụa bên ngoài hạt, đem phơi trong mát và cất giữ nơi khô ráo. Trước khi gieo cần xử lý hạt, dùng dung dịch Tốp-xin 1% để khử mầm bệnh, tiếp theo ngâm hạt trong Cacbonat natri 1% (NaHCO3) từ 4-5 tiếng đồng hồ, sau đó dùng nước rửa sạch là có thể đem gieo. Để hạt trong nhiệt độ 32-35°C để thúc mầm, khi hạt đã nứt nanh mới đem gieo để cây mọc đều và nhanh.
1. Một số giống và kỹ thuật chọn giống Đu đủ
1.1 Giống
Đu đủ có nhiều loại giống khác nhau nhưng phổ biến nhất là các giống sau:
– Giống Hong Kong da bông: Cho năng suất cao, trọng lượng trái trung bình từ 2,5-3kg, vỏ dày, chống chịu khá với nhện đỏ và các bệnh do Virus. Thịt trái có màu vàng, hàm lượng đường từ 9-10%.
– Giống Đài Loan tím: Năng suất rất cao, trái nhiều, trọng lượng trái từ 1,2-1,5 kg. Thịt trái có màu đỏ tím, chắc thịt. Hàm lượng đường từ 10-11%. Cây dễ bị nhện đỏ và các bệnh do Virus, nhưng vẫn có khả năng cho trái tốt trong những năm đầu.
– Giống EKSOTIKA: Cho phẩm chất ngon, thịt trái màu đỏ tía, chắc thịt, tươi đẹp, hàm lượng đường 13-14%, trọng lượng trái 0,5-1kg.
– Giống Sola: Có đặc điểm gần giống như EKSOTIKA nhưng thịt trái chắc hơn, thơm ngon hơn, hàm lượng đường 15-17%, trọng lượng trái 300-500g
– Giống Hồng Phi 786: Cây phát triển rất khỏe, cây có trái sớm, cây có trái đầu tiên lúc cây cao khoảng 80cm. Tỷ lệ đậu trái cao, một mùa 1 cây có thể đậu 30 trái trở lên, sản lượng rất cao. Trái lớn, trọng lượng trái từ 1,5-2Kg (có thể đạt 3kg/trái). Cây cái ra trái hình bầu dục, cây lưỡng tính cho trái dài. Da nhẵn bóng, thịt dày màu đỏ tươi, hàm lượng đường 13-14%, dễ vận chuyển.
1.2. Chọn giống
Tháp hay giâm cành đu đủ đều trồng được cả, nhưng trồng bằng hột thì dễ dàng và tiện lợi hơn vì trái đu đủ nhiều hột, mà hột lại tồn trữ dễ dàng. Hột vẫn còn nẩy mầm sau ba năm nếu đựơc tồn trữ nơi khô ráo và mát mẻ. Gieo hột càng tươi càng tốt.
– Chọn hạt: Từ trái thon dài, phát triển tốt trên cây mẹ khỏe, sạch sâu bệnh, trái phải đủ độ già trên cây, chỉ lấy những hạt đen ở giữa trái thả vào nước, vớt những hạt nổi bỏ đi, chỉ dùng những hạt chìm làm giống.
– Xử lý hạt: Vớt những hạt nổi bỏ đi, những hạt chìm làm giống có thể ngâm xâm xấp nước 1-2 ngày đêm trong chậu men, sau đó đãi sạch chất keo, chất nhớt bám vào hạt, chà tróc vỏ lụa bên ngoài hạt, đem phơi trong mát và cất giữ nơi khô ráo. Trước khi gieo cần xử lý hạt, dùng dung dịch Tốp-xin 1% để khử mầm bệnh, tiếp theo ngâm hạt trong Cacbonat natri 1% (NaHCO3) từ 4-5 tiếng đồng hồ, sau đó dùng nước rửa sạch là có thể đem gieo. Để hạt trong nhiệt độ 32-35°C để thúc mầm, khi hạt đã nứt nanh mới đem gieo để cây mọc đều và nhanh.
Thứ Năm, 4 tháng 5, 2017
Cách trồng giống Mít
Giống Mít MĐN06 có nguồn gốc ở huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai được tuyển chọn trong Hội thi cây mít giống tốt ở miền Đông Nam bộ năm 2001. Giống mít MĐN06 vừa đáp ứng được các chỉ tiêu cho công nghệ chế biến và vừa phục vụ ăn tươi.
1. Giới thiệu giống
1.1. Giống mít MĐN06
Giống mít MĐN06 có nguồn gốc ở huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai được tuyển chọn trong Hội thi cây mít giống tốt ở miền Đông Nam bộ năm 2001. Cây sinh trưởng phát triển tốt, tán cây cân đối, kháng sâu bệnh hại quan trọng, đặc biệt là bệnh thối gốc chảy nhựa do nấm Phytophthora spp. gây hại. Có trái sau trồng 2-3 năm tùy thuộc vào điều kiện chăm sóc. Giống mít MĐN06 vừa đáp ứng được các chỉ tiêu cho công nghệ chế biến và vừa phục vụ ăn tươi.
– Đặc điểm phẩm chất (cây thành thục)
+ Trọng lượng quả trung bình: 9-11 kg/quả
+ Năng suất trung bình: 80-120 kg/cây/năm (cây 10 năm tuổi);
+ Màu vỏ quả: Xanh vàng; dạng quả thon đều;
+ Thịt múi: Màu vàng tươi; ráo dòn; ngọt và có mùi thơm, có lớp lụa bọc múi ;
+ Tỷ lệ ăn được (thịt múi): 40-42%. Độ brix thịt múi 25-27%.
1.2. Mít Khanun vàng
Giống mít Khanun vàng có nguồn gốc nhập nội từ Thái Lan. Cây sinh trưởng phát triển tốt, tán cây nhỏ hơn giống mít MĐN06, mẫn cảm với bệnh thối gốc chảy nhựa do nấm Phytophthora sp. gây hại. Có trái sau trồng 15-20 tháng tùy thuộc vào điều kiện chăm sóc. Khả năng cho trái nhiều tháng trong năm.
Giống mít Khanun vàng phù hợp cho ăn tươi. Một số chỉ tiêu chưa đáp ứng được yêu cầu của công nghệ chế biến như không có lớp lụa bọc múi, thịt múi hơi nhiều nước, màu vàng nhạt, xốp…
– Đặc điểm phẩm chất (cây thành thục)
+ Trọng lượng quả trung bình: 7-9 kg/quả
+ Năng suất trung bình: 15-20 quả/cây/năm (cây 5 năm tuổi);
+ Màu vỏ quả: Xanh hơi vàng; dạng quả thon đều;
+ Thịt múi: Màu vàng nhạt; thịt múi hơi nhiều nước, xốp; ít ngọt và có mùi thơm nhẹ.
+ Tỷ lệ ăn được (thịt múi): 40-45%. Độ brix thịt múi 18-24%.
1.3. Mít lá lớn
Giống mít lá có nguồn gốc nhập nội từ Thái Lan. Cây sinh trưởng phát triển tốt, tán cây lớn, lá xanh đậm, dày và to, mẫn cảm với bệnh thối gốc chảy nhựa do nấm Phytophthora sp. gây hại. Có trái sau trồng 18-24 tháng tùy thuộc vào điều kiện chăm sóc. Khả năng cho trái nhiều tháng trong năm.
Giống mít lá lớn phù hợp cho ăn tươi. Một số chỉ tiêu chưa đáp ứng được yêu cầu của công nghệ chế biến như không có lớp lụa bọc múi, thịt múi hơi nhiều nước, màu vàng nhạt, xốp…
– Đặc điểm phẩm chất (cây thành thục)
+ Trọng lượng quả trung bình: 8-12 kg/quả
+ Năng suất trung bình: 15-20 quả/cây/năm (cây 5 năm tuổi);
+ Màu vỏ quả: Xanh hơi vàng; dạng quả thon đều;
+ Thịt múi: Màu vàng nhạt; thịt múi hơi nhiều nước, xốp; ít ngọt và có mùi thơm nhẹ.
+ Tỷ lệ ăn được (thịt múi): 40-45%. Độ brix thịt múi 18-24%.
1.4. Mít Viên Linh
Giống mít Viên Linh có nguồn gốc nhập nội từ Thái Lan. Cây sinh trưởng phát triển tốt, tán cây nhỏ hơn giống mít MĐN06, mẫn cảm với bệnh thối gốc chảy nhựa do nấm Phytophthora sp. gây hại. Có trái sau trồng 18-24 tháng tùy thuộc vào điều kiện chăm sóc. Khả năng cho trái nhiều tháng trong năm.
Giống mít Viên Linh phù hợp cho ăn tươi. Một số chỉ tiêu chưa đáp ứng được yêu cầu của công nghệ chế biến như không có lớp lụa bọc múi, thịt múi hơi nhiều nước, màu vàng nhạt, xốp…
– Đặc điểm phẩm chất (cây thành thục)
+ Trọng lượng quả trung bình: 7-10 kg/quả
+ Năng suất trung bình: 15-20 quả/cây/năm (cây 5 năm tuổi);
+ Màu vỏ quả: Xanh hơi vàng; dạng quả thon đều;
+ Thịt múi: Màu vàng nhạt; thịt múi hơi nhiều nước, xốp; ít ngọt và có mùi thơm nhẹ.
+ Tỷ lệ ăn được (thịt múi): 40-45%. Độ brix thịt múi 18-24%.
2. Tiêu chuẩn mít ăn tươi và chế biến
2.1. Tiêu chuẩn mít nghệ cho ăn tươi
Mít thu hoạch đúng độ chín;
Múi màu vàng, có mùi thơm đặng trưng;
Độ brix từ 20-30%;
Múi mít không bị sượng, úng nước hay sậm màu bất thường;
Không nhiễm dòi đục trái, sâu bệnh hay vật lạ;
Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm;
1. Giới thiệu giống
1.1. Giống mít MĐN06
Giống mít MĐN06 có nguồn gốc ở huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai được tuyển chọn trong Hội thi cây mít giống tốt ở miền Đông Nam bộ năm 2001. Cây sinh trưởng phát triển tốt, tán cây cân đối, kháng sâu bệnh hại quan trọng, đặc biệt là bệnh thối gốc chảy nhựa do nấm Phytophthora spp. gây hại. Có trái sau trồng 2-3 năm tùy thuộc vào điều kiện chăm sóc. Giống mít MĐN06 vừa đáp ứng được các chỉ tiêu cho công nghệ chế biến và vừa phục vụ ăn tươi.
– Đặc điểm phẩm chất (cây thành thục)
+ Trọng lượng quả trung bình: 9-11 kg/quả
+ Năng suất trung bình: 80-120 kg/cây/năm (cây 10 năm tuổi);
+ Màu vỏ quả: Xanh vàng; dạng quả thon đều;
+ Thịt múi: Màu vàng tươi; ráo dòn; ngọt và có mùi thơm, có lớp lụa bọc múi ;
+ Tỷ lệ ăn được (thịt múi): 40-42%. Độ brix thịt múi 25-27%.
1.2. Mít Khanun vàng
Giống mít Khanun vàng có nguồn gốc nhập nội từ Thái Lan. Cây sinh trưởng phát triển tốt, tán cây nhỏ hơn giống mít MĐN06, mẫn cảm với bệnh thối gốc chảy nhựa do nấm Phytophthora sp. gây hại. Có trái sau trồng 15-20 tháng tùy thuộc vào điều kiện chăm sóc. Khả năng cho trái nhiều tháng trong năm.
Giống mít Khanun vàng phù hợp cho ăn tươi. Một số chỉ tiêu chưa đáp ứng được yêu cầu của công nghệ chế biến như không có lớp lụa bọc múi, thịt múi hơi nhiều nước, màu vàng nhạt, xốp…
– Đặc điểm phẩm chất (cây thành thục)
+ Trọng lượng quả trung bình: 7-9 kg/quả
+ Năng suất trung bình: 15-20 quả/cây/năm (cây 5 năm tuổi);
+ Màu vỏ quả: Xanh hơi vàng; dạng quả thon đều;
+ Thịt múi: Màu vàng nhạt; thịt múi hơi nhiều nước, xốp; ít ngọt và có mùi thơm nhẹ.
+ Tỷ lệ ăn được (thịt múi): 40-45%. Độ brix thịt múi 18-24%.
1.3. Mít lá lớn
Giống mít lá có nguồn gốc nhập nội từ Thái Lan. Cây sinh trưởng phát triển tốt, tán cây lớn, lá xanh đậm, dày và to, mẫn cảm với bệnh thối gốc chảy nhựa do nấm Phytophthora sp. gây hại. Có trái sau trồng 18-24 tháng tùy thuộc vào điều kiện chăm sóc. Khả năng cho trái nhiều tháng trong năm.
Giống mít lá lớn phù hợp cho ăn tươi. Một số chỉ tiêu chưa đáp ứng được yêu cầu của công nghệ chế biến như không có lớp lụa bọc múi, thịt múi hơi nhiều nước, màu vàng nhạt, xốp…
– Đặc điểm phẩm chất (cây thành thục)
+ Trọng lượng quả trung bình: 8-12 kg/quả
+ Năng suất trung bình: 15-20 quả/cây/năm (cây 5 năm tuổi);
+ Màu vỏ quả: Xanh hơi vàng; dạng quả thon đều;
+ Thịt múi: Màu vàng nhạt; thịt múi hơi nhiều nước, xốp; ít ngọt và có mùi thơm nhẹ.
+ Tỷ lệ ăn được (thịt múi): 40-45%. Độ brix thịt múi 18-24%.
1.4. Mít Viên Linh
Giống mít Viên Linh có nguồn gốc nhập nội từ Thái Lan. Cây sinh trưởng phát triển tốt, tán cây nhỏ hơn giống mít MĐN06, mẫn cảm với bệnh thối gốc chảy nhựa do nấm Phytophthora sp. gây hại. Có trái sau trồng 18-24 tháng tùy thuộc vào điều kiện chăm sóc. Khả năng cho trái nhiều tháng trong năm.
Giống mít Viên Linh phù hợp cho ăn tươi. Một số chỉ tiêu chưa đáp ứng được yêu cầu của công nghệ chế biến như không có lớp lụa bọc múi, thịt múi hơi nhiều nước, màu vàng nhạt, xốp…
– Đặc điểm phẩm chất (cây thành thục)
+ Trọng lượng quả trung bình: 7-10 kg/quả
+ Năng suất trung bình: 15-20 quả/cây/năm (cây 5 năm tuổi);
+ Màu vỏ quả: Xanh hơi vàng; dạng quả thon đều;
+ Thịt múi: Màu vàng nhạt; thịt múi hơi nhiều nước, xốp; ít ngọt và có mùi thơm nhẹ.
+ Tỷ lệ ăn được (thịt múi): 40-45%. Độ brix thịt múi 18-24%.
2. Tiêu chuẩn mít ăn tươi và chế biến
2.1. Tiêu chuẩn mít nghệ cho ăn tươi
Mít thu hoạch đúng độ chín;
Múi màu vàng, có mùi thơm đặng trưng;
Độ brix từ 20-30%;
Múi mít không bị sượng, úng nước hay sậm màu bất thường;
Không nhiễm dòi đục trái, sâu bệnh hay vật lạ;
Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm;
Thứ Tư, 3 tháng 5, 2017
Phân bón cơ bản dùng cho cây ăn trái
Phân bón cho cây ăn trái được sử dụng tuỳ theo đất, giống và tình trạng dinh dưỡng của cây ăn trái mà quyết định lượng phân bón thích hợp, cần bón phân đầy đủ đạm, lân, kali; bổ sung thêm phân hữu cơ và vi lượng để cây đạt năng suất cao.
Năm tuổi Loại phân
Ure (g/cây/năm) Super lân (g/cây/năm) Kali (g/cây/năm)
1 – 3 100 – 300 300 – 600 100
4 – 6 400 – 500 900 – 1200 200
7 – 9 600 – 800 1500 – 1800 300
Tròn 10 900 – 1600 200 – 2400 400
Phân bón thường sử dụng cho cây ăn trái
– Phân bón cho cây 1 – 2 năm tuổi:
+ Phân đạm: Nên pha phân vào nước để tưới, 2 – 3 tháng tưới 1 lần
+ Phân lân và kali: Bón một lần vào cuối mùa mưa.
+ Trong giai đoạn này nên phun phân bón lá Yogen để giúp cây nhanh phát triển và tạo tán tốt ở giai đoạn đầu, phun 1 trong các loại sau: Yogen 30-10-10, Yogen 21-21-21, Yogen 15-30-15 để giúp cây phát triển mạnh bộ rễ phun siêu lân hoặc Yogen 10-50-10
– Phân bón cho cây trưởng thành:
Chia làm 4 lần bón/năm
+ Lần 1: Trước khi cây ra hoa: bón 1/3 Urê, phun Yogen siêu lânhoặc Yogen 10-50-10 giúp cây ra hoa sớm và đồng loạt.
+ Lần 2: Sau khi đậu trái 6 – 8 tuần: bón 1/3 Urê + 1/2 Kali, phun siêu Kali hoặc 6-30-30 giúp cây cho năng suất và chất lượng cao.
+ Lần 3: Trước khi cho thu hoạch trái 1 – 2 tháng: bón 1/2 Kali còn lại
+ Lần 4: Sau khi thu hoạch trái bón toàn bộ lân và 1/3 Urê.
Phân bón phải được bón đúng cách
Dựa theo tán cây để bón, cuốc rãnh sâu 5 – 10cm; rộng 10 – 20cm, cách gốc 0,5 – 1m (tuỳ tán cây); cho phân vào, lấp đất lại và tưới nước.
Khi cây giao tán nên dùng cuốc xới nhẹ lớp đất xung quanh gốc theo hình chiếu của tán, cách gốc khoảng 50cm. Tưới đẫm liếp trước, sau đó rải phân bón thẳng lên mặt liếp.
Hàng năm còn cần bón thêm phân lân hữu cơ (hiệu Con én đỏ) của XN Yogen Mitsui Vina cho cây nhằm vừa cung cấp dinh dưỡng cho cây, vừa giúp đất tơi xốp, giúp bộ rễ cây phát triển tốt. Nếu bón phân chuồng nên bón phân hoai mục để giảm ô nhiễm môi trường và hạn chế được nấm bệnh (có trong phân chưa hoai).
Để cung cấp thêm vi lượng cho cây nên bón phân qua lá Yogen hiệu Con én đỏ vào giai đoạn cây ra lá non và khi trái bắt đầu phát triển nhanh, mỗI lần phun cách nhau 10 – 15 ngày, phun 4 – 5 lần/vụ.
Xử lý ra hoa:
Dùng biện pháp xiết nước để kích thích ra hoa cây có múi. Cách làm như sau:
– Sau khi thu hoạch tiến hành cắt tỉa cành sâu bệnh, cành vô hiệu (không có khả năng cho trái) và bón phân bồi dưỡng để cây phục hồi sau mùa cho trái, kết hợp phun phân Yogen.
– Rút khô nước trong mương vườn và ngưng nước để tạo “sốc” cho cây.
– Thời gian xiết nước kéo dài khoảng 3 tuần đến khi thấy lá hơi héo thì cho nước vào mương cách mặt đất 20 – 30 cm trong 12 giờ, sau đó rút bớt nước ra còn cách mặt liếp 50 – 60cm để không làm rễ cây bị thiệt hại gây mất sức cho cây.
– Tưới nước sớm, bón phân đầy đủ thúc cây sớm ra đọt và nụ hoa. Phun phân Yogen Siêu kali kết hợp vớI Atonik, thời gian xiết nước sẽ rút ngắn hơn.
Năm tuổi Loại phân
Ure (g/cây/năm) Super lân (g/cây/năm) Kali (g/cây/năm)
1 – 3 100 – 300 300 – 600 100
4 – 6 400 – 500 900 – 1200 200
7 – 9 600 – 800 1500 – 1800 300
Tròn 10 900 – 1600 200 – 2400 400
Phân bón thường sử dụng cho cây ăn trái
– Phân bón cho cây 1 – 2 năm tuổi:
+ Phân đạm: Nên pha phân vào nước để tưới, 2 – 3 tháng tưới 1 lần
+ Phân lân và kali: Bón một lần vào cuối mùa mưa.
+ Trong giai đoạn này nên phun phân bón lá Yogen để giúp cây nhanh phát triển và tạo tán tốt ở giai đoạn đầu, phun 1 trong các loại sau: Yogen 30-10-10, Yogen 21-21-21, Yogen 15-30-15 để giúp cây phát triển mạnh bộ rễ phun siêu lân hoặc Yogen 10-50-10
– Phân bón cho cây trưởng thành:
Chia làm 4 lần bón/năm
+ Lần 1: Trước khi cây ra hoa: bón 1/3 Urê, phun Yogen siêu lânhoặc Yogen 10-50-10 giúp cây ra hoa sớm và đồng loạt.
+ Lần 2: Sau khi đậu trái 6 – 8 tuần: bón 1/3 Urê + 1/2 Kali, phun siêu Kali hoặc 6-30-30 giúp cây cho năng suất và chất lượng cao.
+ Lần 3: Trước khi cho thu hoạch trái 1 – 2 tháng: bón 1/2 Kali còn lại
+ Lần 4: Sau khi thu hoạch trái bón toàn bộ lân và 1/3 Urê.
Phân bón phải được bón đúng cách
Dựa theo tán cây để bón, cuốc rãnh sâu 5 – 10cm; rộng 10 – 20cm, cách gốc 0,5 – 1m (tuỳ tán cây); cho phân vào, lấp đất lại và tưới nước.
Khi cây giao tán nên dùng cuốc xới nhẹ lớp đất xung quanh gốc theo hình chiếu của tán, cách gốc khoảng 50cm. Tưới đẫm liếp trước, sau đó rải phân bón thẳng lên mặt liếp.
Hàng năm còn cần bón thêm phân lân hữu cơ (hiệu Con én đỏ) của XN Yogen Mitsui Vina cho cây nhằm vừa cung cấp dinh dưỡng cho cây, vừa giúp đất tơi xốp, giúp bộ rễ cây phát triển tốt. Nếu bón phân chuồng nên bón phân hoai mục để giảm ô nhiễm môi trường và hạn chế được nấm bệnh (có trong phân chưa hoai).
Để cung cấp thêm vi lượng cho cây nên bón phân qua lá Yogen hiệu Con én đỏ vào giai đoạn cây ra lá non và khi trái bắt đầu phát triển nhanh, mỗI lần phun cách nhau 10 – 15 ngày, phun 4 – 5 lần/vụ.
Xử lý ra hoa:
Dùng biện pháp xiết nước để kích thích ra hoa cây có múi. Cách làm như sau:
– Sau khi thu hoạch tiến hành cắt tỉa cành sâu bệnh, cành vô hiệu (không có khả năng cho trái) và bón phân bồi dưỡng để cây phục hồi sau mùa cho trái, kết hợp phun phân Yogen.
– Rút khô nước trong mương vườn và ngưng nước để tạo “sốc” cho cây.
– Thời gian xiết nước kéo dài khoảng 3 tuần đến khi thấy lá hơi héo thì cho nước vào mương cách mặt đất 20 – 30 cm trong 12 giờ, sau đó rút bớt nước ra còn cách mặt liếp 50 – 60cm để không làm rễ cây bị thiệt hại gây mất sức cho cây.
– Tưới nước sớm, bón phân đầy đủ thúc cây sớm ra đọt và nụ hoa. Phun phân Yogen Siêu kali kết hợp vớI Atonik, thời gian xiết nước sẽ rút ngắn hơn.
Thứ Ba, 2 tháng 5, 2017
Tránh tình trạng cây Hồng giòn rụng quả non
Cây Hồng rụng quả non khá nhiều, thường có 2 đợt rụng lớn:
Đợt 1 : Cây hồng rụng quả non ngay sau khi nở hoa vào cuối tháng 3 đến đầu tháng 4, tỷ lệ rụng hoa chiếm trên 90%.
Đợt 2 : Cây hồng rụng quả non rải rác và kết thúc vào lúc quả bắt đầu chín.
Muốn phòng chống hiện tượng cây hồng rụng quả non cần thực hiện những công việc sau:
– Trước hết phải chú ý thâm canh tốt để cây tích lũy được nhiều chất dinh dưỡng nuôi quả, hạn chế được rụng hoa, rụng quả.
– Hàng năm nên bón phân cho hồng vào tháng 12, tháng giêng – trước khi cây nẩy lộc.
– Đối với những cây đã ra quả ổn định từ năm thứ 8 trở đi cần bón cho mỗi cây 30-50kg phân chuồng hoai trộn với 0,3-0,5kg N + 0,3kg P2O5 + 0,5kg K2O. Hàng tháng nên tưới thêm 1-2 lần nước phân NPK pha loãng 100 lần cho cây hoặc phun thêm các loại phân bón qua lá. Cây sinh trưởng càng mạnh cần tăng cường thêm lượng phân kali vì kali là yếu tố quyết định hạn chế rụng quả.
Nếu cây đậu quả non nhiều phải cắt tỉa hợp lý. Trong thời gian này không nên cuốc xới sâu xung quanh vùng rễ dễ gây tổn thương cho hệ rễ cũng dẫn đến rụng quả. Có thể phun kết hợp Atonik, Komix và 2 loại thuốc trừ nấm Ridomil MZ và Oxyclorua đồng vào các thời kỳ trước, sau khi ra hoa và các thời kỳ nuôi quả để hạn chế được hiện tượng cây hồng rụng quả non nâng cao số quả/chùm.
Đợt 1 : Cây hồng rụng quả non ngay sau khi nở hoa vào cuối tháng 3 đến đầu tháng 4, tỷ lệ rụng hoa chiếm trên 90%.
Đợt 2 : Cây hồng rụng quả non rải rác và kết thúc vào lúc quả bắt đầu chín.
Muốn phòng chống hiện tượng cây hồng rụng quả non cần thực hiện những công việc sau:
– Trước hết phải chú ý thâm canh tốt để cây tích lũy được nhiều chất dinh dưỡng nuôi quả, hạn chế được rụng hoa, rụng quả.
– Hàng năm nên bón phân cho hồng vào tháng 12, tháng giêng – trước khi cây nẩy lộc.
– Đối với những cây đã ra quả ổn định từ năm thứ 8 trở đi cần bón cho mỗi cây 30-50kg phân chuồng hoai trộn với 0,3-0,5kg N + 0,3kg P2O5 + 0,5kg K2O. Hàng tháng nên tưới thêm 1-2 lần nước phân NPK pha loãng 100 lần cho cây hoặc phun thêm các loại phân bón qua lá. Cây sinh trưởng càng mạnh cần tăng cường thêm lượng phân kali vì kali là yếu tố quyết định hạn chế rụng quả.
Nếu cây đậu quả non nhiều phải cắt tỉa hợp lý. Trong thời gian này không nên cuốc xới sâu xung quanh vùng rễ dễ gây tổn thương cho hệ rễ cũng dẫn đến rụng quả. Có thể phun kết hợp Atonik, Komix và 2 loại thuốc trừ nấm Ridomil MZ và Oxyclorua đồng vào các thời kỳ trước, sau khi ra hoa và các thời kỳ nuôi quả để hạn chế được hiện tượng cây hồng rụng quả non nâng cao số quả/chùm.
Thứ Hai, 1 tháng 5, 2017
Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây đào ăn quả cho năng suất tốt
Cây đào có thể trồng thực sinh tức là nhân giống bằng hạt cũng như trồng bằng cây ghép hoặc chiết. Khâu chọn cây đào để lấy giống là rất quan trọng trong điều kiện thực trạng sản xuất đào ăn quả của nước ta.
Trong suốt quá trình sinh trưởng từ khi vườn đào đã bắt đầu cho quả 4 – 5 vụ; (có độ tuổi từ 7 – 8 năm trở lên) cần quan sát và theo dõi từng cây. Tuyển chọn lấy những cây sinh trưởng tốt, đều, bộ khung tán đặc trưng cho nhóm giống, có sức chống chịu sâu bệnh như: dòi đục quả, bệnh chảy nhựa… năng suất cao ổn định, phẩm chất quả thơm ngon, quả có trọng lượng cao hơn các cây cụng vườn… làm giống. Chăm sóc chu đáo những cây này để lấy hạt hoặc cành ghép nhân giống.
Trồng đào ăn quả
Khi đào chín, chọn lấy những quả đẹp, to để riêng, để một thời gian cho chín kỹ! Lấy hạt rửa sạch, hong khô và bảo quản đến cuối năm đem gieo vào túi bầu; Trước khi gieo hạt đào cần ngâm nước ấm 4-5 ngày, thay nước hàng ngày, Sau đó gieo mỗi bầu 1 hạt; dành 5% số túi để dự phòng, dặm vào các túi có cây bị chết, các túi này có thể gieo 2 – 3 hạt. Túi bầu được xếp vào vườn ươm và chăm sóc. Khi cây cao 50 — 60cm đem trồng.
Thòi vụ trồng tốt nhất là vụ xuân. Nếu được chọn để lấy mắt ghép thì sau khi thu hái quả xong, tiến hành chăm bón cho cây đào hồi phục, ổn định. Chọn lấy những cành bánh tẻ, được 6-8 tháng tuổi để lấy mắt ghép. Phải chuẩn bị trước vườn cây gốc ghép. Đào có thể ghép trên đào, chọn loại đào mọc khoẻ, mang nhiều tính hoang dã để làm gốc ghép Hạt đào làm gốc ghép được chuẩn bị và gieo ươm như đã nói ở phần trên. Khi cây cao 60 – 80cm, đường kính gốc 0,6 – 0,8cm thì ghép được. Có thể ghép đào theo cách áp thân, ghép mắt theo kiểu chữ T hoặc mắt nhỏ có gỗ.
Chăm sóc vườn ươm sau khi ghép: tập trung những túi bầu có cây ghép sống vào gần nhau. Còn những túi bầu có cây ghép không đạt yêu cầu thì để riêng, chăm sóc và ghép lại. . Sau khi cắt ngọn của cây gốc ghép, chồi ghép nảy mầm và lớn dần, cần thường xuyên cắt tỉa các chồi dại mọc từ gốc cây ghép để cây tập trung dinh dưỡng nuôi phần mầm ghép. Thỉnh thoảng tưới nước phân pha loãng để cây giống phát triển thuận lợi.
Trồng và chăm sóc vườn đào Chọn đất phù hợp cho cây đào, nếu có điều kiện thì cày sâu 25 – 30cm để làm tơi đất và diệt cỏ dại. Sau đó đào hố sâu 60 – 70cm, miệng hố có kích cỡ 70 x 70cm. Bón lót vào 1 hố 25 – 30kg phân chuồng tốt hoai mục; 0,5kg supe lân; 0,5kg clorua kali. Tất cả trộn kỹ với lớp đất mặt và lấp đầy miệng hố, để 1 tháng sau mới trồng đào. Thời vụ trồng đào tốt nhất là vụ xuân. Nếu có diện tích tương đối bằng phẳng và rộng thì đào hố theo đường thẳng, cách nhau 6 – 7m và hàng cách hàng 7 – 8m.
Nếu diện tích trồng có độ dốc thì đào hố theo đường đồng mức. Cần tạo điều kiện để chống xói mòn như: gieo trồng các loại cây phủ đất, chắn dòng chảy… cách trồng cây đào vào hố và các biện pháp chăm sóc cũng tương tự như đối với các loại cây khác. Chú ý: Khi cây đào cao 1 – 1,2m thì bấm ngọn để tạo các cành cơ bản, giữ khoảng 3 – 4 cành hướng đều ra các phía. Khi cành này vươn dài 1,2 – 1,3m lại bấm ngọn cành để tạo nhiều cành thứ cấp. Cần tạo cho cây đào có khung tán tròn để bộ lá hướng ánh sáng đều. Thời gian ra hoa và nuôi quả, đặc biệt là thòi kỳ quả đang lớn, cây đào rất cần ánh sáng. Cắt bỏ thường xuyên các chồi dại của cây gốc ghép.
Trong suốt quá trình sinh trưởng từ khi vườn đào đã bắt đầu cho quả 4 – 5 vụ; (có độ tuổi từ 7 – 8 năm trở lên) cần quan sát và theo dõi từng cây. Tuyển chọn lấy những cây sinh trưởng tốt, đều, bộ khung tán đặc trưng cho nhóm giống, có sức chống chịu sâu bệnh như: dòi đục quả, bệnh chảy nhựa… năng suất cao ổn định, phẩm chất quả thơm ngon, quả có trọng lượng cao hơn các cây cụng vườn… làm giống. Chăm sóc chu đáo những cây này để lấy hạt hoặc cành ghép nhân giống.
Trồng đào ăn quả
Khi đào chín, chọn lấy những quả đẹp, to để riêng, để một thời gian cho chín kỹ! Lấy hạt rửa sạch, hong khô và bảo quản đến cuối năm đem gieo vào túi bầu; Trước khi gieo hạt đào cần ngâm nước ấm 4-5 ngày, thay nước hàng ngày, Sau đó gieo mỗi bầu 1 hạt; dành 5% số túi để dự phòng, dặm vào các túi có cây bị chết, các túi này có thể gieo 2 – 3 hạt. Túi bầu được xếp vào vườn ươm và chăm sóc. Khi cây cao 50 — 60cm đem trồng.
Thòi vụ trồng tốt nhất là vụ xuân. Nếu được chọn để lấy mắt ghép thì sau khi thu hái quả xong, tiến hành chăm bón cho cây đào hồi phục, ổn định. Chọn lấy những cành bánh tẻ, được 6-8 tháng tuổi để lấy mắt ghép. Phải chuẩn bị trước vườn cây gốc ghép. Đào có thể ghép trên đào, chọn loại đào mọc khoẻ, mang nhiều tính hoang dã để làm gốc ghép Hạt đào làm gốc ghép được chuẩn bị và gieo ươm như đã nói ở phần trên. Khi cây cao 60 – 80cm, đường kính gốc 0,6 – 0,8cm thì ghép được. Có thể ghép đào theo cách áp thân, ghép mắt theo kiểu chữ T hoặc mắt nhỏ có gỗ.
Chăm sóc vườn ươm sau khi ghép: tập trung những túi bầu có cây ghép sống vào gần nhau. Còn những túi bầu có cây ghép không đạt yêu cầu thì để riêng, chăm sóc và ghép lại. . Sau khi cắt ngọn của cây gốc ghép, chồi ghép nảy mầm và lớn dần, cần thường xuyên cắt tỉa các chồi dại mọc từ gốc cây ghép để cây tập trung dinh dưỡng nuôi phần mầm ghép. Thỉnh thoảng tưới nước phân pha loãng để cây giống phát triển thuận lợi.
Trồng và chăm sóc vườn đào Chọn đất phù hợp cho cây đào, nếu có điều kiện thì cày sâu 25 – 30cm để làm tơi đất và diệt cỏ dại. Sau đó đào hố sâu 60 – 70cm, miệng hố có kích cỡ 70 x 70cm. Bón lót vào 1 hố 25 – 30kg phân chuồng tốt hoai mục; 0,5kg supe lân; 0,5kg clorua kali. Tất cả trộn kỹ với lớp đất mặt và lấp đầy miệng hố, để 1 tháng sau mới trồng đào. Thời vụ trồng đào tốt nhất là vụ xuân. Nếu có diện tích tương đối bằng phẳng và rộng thì đào hố theo đường thẳng, cách nhau 6 – 7m và hàng cách hàng 7 – 8m.
Nếu diện tích trồng có độ dốc thì đào hố theo đường đồng mức. Cần tạo điều kiện để chống xói mòn như: gieo trồng các loại cây phủ đất, chắn dòng chảy… cách trồng cây đào vào hố và các biện pháp chăm sóc cũng tương tự như đối với các loại cây khác. Chú ý: Khi cây đào cao 1 – 1,2m thì bấm ngọn để tạo các cành cơ bản, giữ khoảng 3 – 4 cành hướng đều ra các phía. Khi cành này vươn dài 1,2 – 1,3m lại bấm ngọn cành để tạo nhiều cành thứ cấp. Cần tạo cho cây đào có khung tán tròn để bộ lá hướng ánh sáng đều. Thời gian ra hoa và nuôi quả, đặc biệt là thòi kỳ quả đang lớn, cây đào rất cần ánh sáng. Cắt bỏ thường xuyên các chồi dại của cây gốc ghép.
Thứ Tư, 26 tháng 4, 2017
Cách trồng quả thanh mai tại nhà
Thời điểm trồng Thanh mai thích hợp nhất
Thanh mai là loại quả dễ trồng và dễ chăm sóc, bạn có thể bắt đầu trồng thanh mai từ hạt vào lúc tháng Sáu hoặc tháng Bảy để cây nhanh chóng nảy mầm hoặc trồng cây con khi mới bắt đầu thu đông. Tỷ lệ nảy mầm của thanh mai đạt từ 10% - 90% tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên và bàn tay chăm sóc của người trồng
Thời gian nảy mầm
Hạt thanh mai có thể mất 2-12 tháng để nảy mầm tùy thuộc vào thời gian các lớp sáp trên quả bị phá vỡ. Để kích thích hạt nảy mầm nhanh nhất, bạn có thể cạo bỏ một phần lớp sáp bao quanh hạt bằng cách chà xát lớp vỏ trên bề mặt nhám trước khi gieo để rút ngắn thời gian. Ở các trang trại, khi trồng với số lượng nhiều, các đại lý thường ngâm hạt trong chất tẩy rửa để loại bỏ lớp sáp bảo vệ.
Loại đất phù hợp
Đất trồng thanh mai chỉ cần pha thêm chút phân hữu cơ trước khi trồng. Sau khi gieo hạt sâu xuống đất khoảng 1cm, bạn nên che phủ lên trên mặt đất ít gỗ bào, lá khô để hạn chế cỏ dại và giữ độ ẩm cho đất. Trong suốt năm đầu tiên, bạn cần tưới nước hàng tuần để rễ cây phát triển. Khi cây đủ lớn, thanh mai ít khi cần tưới nước trừ khi nắng nóng quá dài khiến đất khô cạn.
Quá trình chăm sóc
Thanh mai rất dễ trồng và không đòi hỏi phải chăm sóc gì nhiều. Sau khi trồng vào mùa hè, đến mùa xuân là bạn có thể cắt bớt các cành yếu, cành chết để tập trung phát triển nụ mới, ra hoa. Cây thanh mai cũng hiếm khi cần phân bón, trừ khi tăng trưởng chậm. Thậm chí, nếu bón quá tay phân đạm, thanh mai rất dễ bị xót gốc mà chết.
Thứ Ba, 25 tháng 4, 2017
Kỹ thuật trồng quýt hồng
Muốn lập một vườn Quýt Hồng dù trồng bằng cây con, nhánh chiết hoặc tháp cũng đều phải chọn giống.
1. Chọn giống
Ngày xưa ông bà thường nói: “Mua heo chọn nái, cưới gái chọn giòng”. Về phương diện làm vườn cũng vậy, vì trồng cây mà không chọn giống thì uổng công. Từ ngày trồng cây đến ngày thu hoạch, ta tốn biết bao công sức và tiền bạc mà cây chậm phát triển, cho năng suất không cao thì phí công, hao của biết chừng nào.
Muốn lập một vườn Quýt Hồng dù trồng bằng cây con, nhánh chiết hoặc tháp cũng đều phải chọn giống.
2. Các loại cây giống
a. Trồng bằng cây con:
Trồng cây con là cách gây giống bằng phương pháp hữu tính, là quá trình tạo cây từ hạt. Phương pháp này mang đặc tính di truyền của cây mẹ. Nên ta chỉ lựa một cây quýt nào cho quả tốt rồi lấy hạt đem ương. Cách này có thể thực hiện được nhiều cây giống cùng một lúc nhưng phải có thời gian chờ cây con lớn. Thường thì đem ra vườn ngâm từ một năm trở lên mới có thể trồng được. Có hai cách trồng cây con: có hai cách trồng cây con: Bứng từ vườn ươm nguyên cây đem trồng hoặc chiết ngang tốc (xem phần chiết nhánh).
b. Trồng bằng nhánh chiết:
Gây giống bằng phương pháp chiết nhanh tương đối dễ, mau trồng và mau có trái hơn trồng bằng cây con, nhưng cũng hạn chế về mặt số lượng. Nhánh chiết cũng phải lựa giống cây tốt và nhánh tốt. Thường thì nhánh chiết từ cây mẹ nguyên là cây con có từ 3 năm tuổi trở lên và không quá 5 năm thì nó sẽ phát triển mạnh hơn, nhưng sẽ có trái trễ hơn nhánh chiết từ cây mẹ nguyên là nhánh chiết.
c. Trồng bằng cây tháp (ghép):
Quýt Hồng phát triển ở Lai Vung, Đồng Tháp khá lâu nhưng với cái bệnh chết bất thường đến nay cũng chưa ai chữa trị được để khỏi trồng cây khác. Nên người ta tìm một gốc cây có quan hệ họ hàng về mặt thực vật rễ phát triển tốt, bền, ít chết bậy như chanh, cam, bưởi v.v… để tháp (ghép) Quýt Hồng vào.
Gốc tháp phải đạt yêu cầu sau:
- Có sức sinh trưởng tương đương với cành tháp.
- Có bộ rễ sinh trưởng mạnh, đâm chồi nhiều và sinh nhiều rễ phụ.
- Dễ thích ứng và chịu đựng tốt với điều kiện thời tiết như mưa, nắng, ngập nước v.v…
Với điều kiện trên ta nhận thấy dùng nhanh để làm gốc tháp là thích hợp nhất.
Trồng Quýt bằng phương pháp tháp (ghép) thì việc gầy giống còn khó khăn và chậm. Cần thời gian chuẩn bị cây trồng và kỹ thuật tháp (ghép) cao mới đủ số lượng trồng nhiều, nhưng rất đảm bảo về mặt phát triển và lợi được nhiều về phương diện khác như: không cần phải làm bờ quá cao tốn kém, không sợ úng thủy hau nước ngập.
d. Khu ươm cây và giâm cây giống:
Muốn cây mới đem trồng vào vườn ít hao, dù cây con hay nhánh chết, ta nên giâm ở vườn ươm một thời gian cho cây tươi tỉnh. Khi thời tiết thuận lợi đem ra vườn trồng, cây sẽ không bị héo và mau phát triển.
Trồng một vườn cây ăn trái dù lớn hay nhỏ cũng nên có một khi dành riêng để giâm cây con trước khi đem trồng.
Có hai loại cây giâm:
Giâm cây con:
Cây con ươm từ hạt khi lên cao từ 2 tấc trở lên đem giâm vào khu giâm. Sau 1 năm tuổi ta có thể bứng nguyên cây hoặc chiết ngang gốc để trồng (xem cách giâm cây con).
Giâm nhánh chiết hoặc cây con chiết ngang:
- Giâm tạm (rấm)
Khi cắt một đầu chiết đã ra rễ trồng được ta nên đem rấm (giâm tạm) bằng cách để các bầu sát vào nhau nơi mát hoặc có mái che và đắp thêm vào rễ một cục đất bùn. Sau 15 ngày rễ sẽ mọc dài ra thêm thật nhiều, khi đó đem đi trồng nhánh sẽ không mất sức.
- Giảm thực thụ (thời gian từ 1 năm)
Nếu trong hoàn cảnh chuẩn bị vườn chưa xong mà muốn cây mau thu hoạch ta nên chuẩn bị cây giống và giâm trước. Nhờ cách này ta có thể rút ngắn thời gian thu hoạch tùy giâm lâu hay mau nhưng không quá 2 năm, vì cây lớn quá sẽ khó bứng. Cây giâm thực thụ phải thưa để cây phát triển. Khoảng cách giữa hai cây có thể từ 5 tấc đến 1 thước. Đây cũng là cách dự phòng để thay vào những cây chết trong vườn mỗi khi cần.
1. Chọn giống
Ngày xưa ông bà thường nói: “Mua heo chọn nái, cưới gái chọn giòng”. Về phương diện làm vườn cũng vậy, vì trồng cây mà không chọn giống thì uổng công. Từ ngày trồng cây đến ngày thu hoạch, ta tốn biết bao công sức và tiền bạc mà cây chậm phát triển, cho năng suất không cao thì phí công, hao của biết chừng nào.
Muốn lập một vườn Quýt Hồng dù trồng bằng cây con, nhánh chiết hoặc tháp cũng đều phải chọn giống.
2. Các loại cây giống
a. Trồng bằng cây con:
Trồng cây con là cách gây giống bằng phương pháp hữu tính, là quá trình tạo cây từ hạt. Phương pháp này mang đặc tính di truyền của cây mẹ. Nên ta chỉ lựa một cây quýt nào cho quả tốt rồi lấy hạt đem ương. Cách này có thể thực hiện được nhiều cây giống cùng một lúc nhưng phải có thời gian chờ cây con lớn. Thường thì đem ra vườn ngâm từ một năm trở lên mới có thể trồng được. Có hai cách trồng cây con: có hai cách trồng cây con: Bứng từ vườn ươm nguyên cây đem trồng hoặc chiết ngang tốc (xem phần chiết nhánh).
b. Trồng bằng nhánh chiết:
Gây giống bằng phương pháp chiết nhanh tương đối dễ, mau trồng và mau có trái hơn trồng bằng cây con, nhưng cũng hạn chế về mặt số lượng. Nhánh chiết cũng phải lựa giống cây tốt và nhánh tốt. Thường thì nhánh chiết từ cây mẹ nguyên là cây con có từ 3 năm tuổi trở lên và không quá 5 năm thì nó sẽ phát triển mạnh hơn, nhưng sẽ có trái trễ hơn nhánh chiết từ cây mẹ nguyên là nhánh chiết.
c. Trồng bằng cây tháp (ghép):
Quýt Hồng phát triển ở Lai Vung, Đồng Tháp khá lâu nhưng với cái bệnh chết bất thường đến nay cũng chưa ai chữa trị được để khỏi trồng cây khác. Nên người ta tìm một gốc cây có quan hệ họ hàng về mặt thực vật rễ phát triển tốt, bền, ít chết bậy như chanh, cam, bưởi v.v… để tháp (ghép) Quýt Hồng vào.
Gốc tháp phải đạt yêu cầu sau:
- Có sức sinh trưởng tương đương với cành tháp.
- Có bộ rễ sinh trưởng mạnh, đâm chồi nhiều và sinh nhiều rễ phụ.
- Dễ thích ứng và chịu đựng tốt với điều kiện thời tiết như mưa, nắng, ngập nước v.v…
Với điều kiện trên ta nhận thấy dùng nhanh để làm gốc tháp là thích hợp nhất.
Trồng Quýt bằng phương pháp tháp (ghép) thì việc gầy giống còn khó khăn và chậm. Cần thời gian chuẩn bị cây trồng và kỹ thuật tháp (ghép) cao mới đủ số lượng trồng nhiều, nhưng rất đảm bảo về mặt phát triển và lợi được nhiều về phương diện khác như: không cần phải làm bờ quá cao tốn kém, không sợ úng thủy hau nước ngập.
d. Khu ươm cây và giâm cây giống:
Muốn cây mới đem trồng vào vườn ít hao, dù cây con hay nhánh chết, ta nên giâm ở vườn ươm một thời gian cho cây tươi tỉnh. Khi thời tiết thuận lợi đem ra vườn trồng, cây sẽ không bị héo và mau phát triển.
Trồng một vườn cây ăn trái dù lớn hay nhỏ cũng nên có một khi dành riêng để giâm cây con trước khi đem trồng.
Có hai loại cây giâm:
Giâm cây con:
Cây con ươm từ hạt khi lên cao từ 2 tấc trở lên đem giâm vào khu giâm. Sau 1 năm tuổi ta có thể bứng nguyên cây hoặc chiết ngang gốc để trồng (xem cách giâm cây con).
Giâm nhánh chiết hoặc cây con chiết ngang:
- Giâm tạm (rấm)
Khi cắt một đầu chiết đã ra rễ trồng được ta nên đem rấm (giâm tạm) bằng cách để các bầu sát vào nhau nơi mát hoặc có mái che và đắp thêm vào rễ một cục đất bùn. Sau 15 ngày rễ sẽ mọc dài ra thêm thật nhiều, khi đó đem đi trồng nhánh sẽ không mất sức.
- Giảm thực thụ (thời gian từ 1 năm)
Nếu trong hoàn cảnh chuẩn bị vườn chưa xong mà muốn cây mau thu hoạch ta nên chuẩn bị cây giống và giâm trước. Nhờ cách này ta có thể rút ngắn thời gian thu hoạch tùy giâm lâu hay mau nhưng không quá 2 năm, vì cây lớn quá sẽ khó bứng. Cây giâm thực thụ phải thưa để cây phát triển. Khoảng cách giữa hai cây có thể từ 5 tấc đến 1 thước. Đây cũng là cách dự phòng để thay vào những cây chết trong vườn mỗi khi cần.
Thứ Hai, 24 tháng 4, 2017
Kỹ thuật chăm sóc xoài cát Hòa Lộc
Xoài cát Hòa Lộc là loại quả đặc sản ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Loại quả này không chỉ có vị thơm ngon đặc biệt mà còn mang lại giá trị kinh tế cao. Cùng tìm hiểu kỹ thuật trồng xoài cát Hòa Lộc - bí quyết làm giàu cho ngành trồng trọt
KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY XOÀI CÁT HÒA LỘC
Xoài cát Hòa Lộc - kỹ thuật trồng xoài cát hòa lộc
.
Để xoài cát Hòa Lộc được mùa bội thu, bạn cần lưu ý đến các kỹ thuật trồng cây và chăm sóc cây như sau:
1. Thời vụ trồng xoài cát Hòa Lộc
Xoài cát ưa khí hậu mát mẻ, ẩm ướt. Vì vậy thời điểm tốt nhất để trồng loại quả này là vào đầu mùa mưa từ tháng 5 -7 dương lịch. Tuy nhiên ở những nơi có đủ nước tưới và có khả năng che mát thì có thể trồng vào bất cứ thời gian nào trong năm đều được.
Xem thêm: >> Kỹ thuật trồng bưởi da xanh
2. Cách làm đất trồng cây xoài
Lên liếp cao từ 50 – 80cm, rộng 70cm để đảm bảo gốc cây không bị úng nước khi trời mưa. Đối với những nơi đất thấp thường xuyên bị ngập úng thì bà con nên trồng cây trên mô; đường kính mô rộng từ 60-80cm, cao 30-60cm.
Xoài cát hòa lộc, xoài cát, chăm sóc cây, trồng cây, cây xoài
Xoài cát Hòa Lộc - kỹ thuật trồng xoài cát hòa lộc
Cách làm đất và trồng cây xoài cát Hòa Lộc cũng thật đơn giản
Trước khi trồng nên dùng phân chuồng trộn với tro trấu và đất vườn trồng với nhau theo tỉ lệ 2 đất + 1 phân chuồng + 1 tro trấu, trộn thêm với 0,2 – 0,3 phân NPK 16:16:8 để làm mô trồng cây.
3. Khoảng cách trồng cây xoài cát Hòa Lộc
Khoảng cách trồng lí tưởng là 8m x 8m hoặc 10m x 10m. Tuy nhiên nếu bà con trồng thâm canh thì có thể trồng với khoảng cách 6m x 6m nhưng bà con cần cắt tỉa cành, tạo tán từ sớm để cây nhận được đầy đủ ánh sáng.
4. Bón phân
Tùy theo điều kiện đất đai và cây phát triển mà bón phân cho thích hợp; bạn có thể tham khảo liều lượng bón phân như sau:
– 2 năm đầu: Bón 150 – 300 g phân 16 – 16 – 8 và 100 – 200g Ure/cây/năm hoặc pha 1 muỗng canh phân 16 – 16 – 8 với ½ muỗng ure/thùng 10 lít, tưới vào gốc (5 – 6 gốc/thùng) định kỳ 30 ngày/lần.
– Cây 6 – 8 năm tuổi : Bón theo công thức 1,09 – 0,9 – 0,96 kg NPK/cây/năm. Chia làm 3 đợt bón như sau:
+ Sau khi thu hoạch: bón 550 – 300 – 240g NPK/cây/năm
+ Trước khi xử lý ra hoa 30 ngày, bón theo công thức 180 – 300 – 240 g NPK/cây/năm
+ Sau khi đậu trái 2 tuần bón 360 – 300 – 480 g NPK/cây/năm
5. Tưới nước
Sau khoảng thời gian khô hạn của mùa khô cần tưới đủ nước để cây ra hoa và kết trái.
6. Tỉa cành, tạo tán
Xoài cát hòa lộc, xoài cát, chăm sóc cây, trồng cây, cây xoài
Tỉa cành, tạo tán cho cây phát triển.
Bấm ngọn cây sau 1 năm tuổi (khoảng 3 – 4 lần ra đọt) ở vị trí cách mặt đất khoảng 0,6 – 1 m để có nhiều chồi bên. Sau khi cắt ngọn, chỉ giữ lại từ 3 – 4 chồi theo hướng đều nhau, chúng không cùng 1 điểm xuất phát là tốt nhất. Khi cành ngang có khoảng 2 – 3 lần đọt, tiếp tục bấm ngọn cành này. Chú ý giữ lại từ 3 – 4 chồi mọc theo các hướng tạo cân đối cho tán cây.
Cắt tỉa phải được thực hiện thường xuyên hàng năm, sau mỗi kỳ thu hoạch để loại bỏ những cành sâu bệnh và chuẩn bị cho sang năm ra hoa và kết trái.
7. Bảo vệ hoa và trái
Cần thường xuyên chăm sóc cây để nhanh chóng phát hiện ra những dấu hiệu bất thường xuất hiện trên cây để xử lí kịp thời. Bà con cũng cần phải thường xuyên phun thuốc bảo vệ thực vật để cây được mạnh khỏe.
Những kỹ thuật trồng và chăm sóc cây Xoài Cát Hòa Lộc được chia sẻ trên đây hi vọng sẽ giúp ích được cho bạn trước khi trồng xoài cát hòa lộc để tăng thêm thu nhập
KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY XOÀI CÁT HÒA LỘC
Xoài cát Hòa Lộc - kỹ thuật trồng xoài cát hòa lộc
.
Để xoài cát Hòa Lộc được mùa bội thu, bạn cần lưu ý đến các kỹ thuật trồng cây và chăm sóc cây như sau:
1. Thời vụ trồng xoài cát Hòa Lộc
Xoài cát ưa khí hậu mát mẻ, ẩm ướt. Vì vậy thời điểm tốt nhất để trồng loại quả này là vào đầu mùa mưa từ tháng 5 -7 dương lịch. Tuy nhiên ở những nơi có đủ nước tưới và có khả năng che mát thì có thể trồng vào bất cứ thời gian nào trong năm đều được.
Xem thêm: >> Kỹ thuật trồng bưởi da xanh
2. Cách làm đất trồng cây xoài
Lên liếp cao từ 50 – 80cm, rộng 70cm để đảm bảo gốc cây không bị úng nước khi trời mưa. Đối với những nơi đất thấp thường xuyên bị ngập úng thì bà con nên trồng cây trên mô; đường kính mô rộng từ 60-80cm, cao 30-60cm.
Xoài cát hòa lộc, xoài cát, chăm sóc cây, trồng cây, cây xoài
Xoài cát Hòa Lộc - kỹ thuật trồng xoài cát hòa lộc
Cách làm đất và trồng cây xoài cát Hòa Lộc cũng thật đơn giản
Trước khi trồng nên dùng phân chuồng trộn với tro trấu và đất vườn trồng với nhau theo tỉ lệ 2 đất + 1 phân chuồng + 1 tro trấu, trộn thêm với 0,2 – 0,3 phân NPK 16:16:8 để làm mô trồng cây.
3. Khoảng cách trồng cây xoài cát Hòa Lộc
Khoảng cách trồng lí tưởng là 8m x 8m hoặc 10m x 10m. Tuy nhiên nếu bà con trồng thâm canh thì có thể trồng với khoảng cách 6m x 6m nhưng bà con cần cắt tỉa cành, tạo tán từ sớm để cây nhận được đầy đủ ánh sáng.
4. Bón phân
Tùy theo điều kiện đất đai và cây phát triển mà bón phân cho thích hợp; bạn có thể tham khảo liều lượng bón phân như sau:
– 2 năm đầu: Bón 150 – 300 g phân 16 – 16 – 8 và 100 – 200g Ure/cây/năm hoặc pha 1 muỗng canh phân 16 – 16 – 8 với ½ muỗng ure/thùng 10 lít, tưới vào gốc (5 – 6 gốc/thùng) định kỳ 30 ngày/lần.
– Cây 6 – 8 năm tuổi : Bón theo công thức 1,09 – 0,9 – 0,96 kg NPK/cây/năm. Chia làm 3 đợt bón như sau:
+ Sau khi thu hoạch: bón 550 – 300 – 240g NPK/cây/năm
+ Trước khi xử lý ra hoa 30 ngày, bón theo công thức 180 – 300 – 240 g NPK/cây/năm
+ Sau khi đậu trái 2 tuần bón 360 – 300 – 480 g NPK/cây/năm
5. Tưới nước
Sau khoảng thời gian khô hạn của mùa khô cần tưới đủ nước để cây ra hoa và kết trái.
6. Tỉa cành, tạo tán
Xoài cát hòa lộc, xoài cát, chăm sóc cây, trồng cây, cây xoài
Tỉa cành, tạo tán cho cây phát triển.
Bấm ngọn cây sau 1 năm tuổi (khoảng 3 – 4 lần ra đọt) ở vị trí cách mặt đất khoảng 0,6 – 1 m để có nhiều chồi bên. Sau khi cắt ngọn, chỉ giữ lại từ 3 – 4 chồi theo hướng đều nhau, chúng không cùng 1 điểm xuất phát là tốt nhất. Khi cành ngang có khoảng 2 – 3 lần đọt, tiếp tục bấm ngọn cành này. Chú ý giữ lại từ 3 – 4 chồi mọc theo các hướng tạo cân đối cho tán cây.
Cắt tỉa phải được thực hiện thường xuyên hàng năm, sau mỗi kỳ thu hoạch để loại bỏ những cành sâu bệnh và chuẩn bị cho sang năm ra hoa và kết trái.
7. Bảo vệ hoa và trái
Cần thường xuyên chăm sóc cây để nhanh chóng phát hiện ra những dấu hiệu bất thường xuất hiện trên cây để xử lí kịp thời. Bà con cũng cần phải thường xuyên phun thuốc bảo vệ thực vật để cây được mạnh khỏe.
Những kỹ thuật trồng và chăm sóc cây Xoài Cát Hòa Lộc được chia sẻ trên đây hi vọng sẽ giúp ích được cho bạn trước khi trồng xoài cát hòa lộc để tăng thêm thu nhập
Chủ Nhật, 23 tháng 4, 2017
Muốn ăn ngon mà vẫn muốn giảm cân hãy ăn trái này
Cây thần kỳ 1 loại cây ăn trái, vừa có thể trồng làm kiểng
Chất Miraculin của cây kỳ diệu là hợp chất tạo vị ngọt thiên nhiên đã được người châu Phi dùng rất nhiều năm, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng miraculin không tạo ra calori nên nhiều nhà sản xuất kỳ vọng nó sẽ có ứng dụng rộng rãi để điều trị bệnh nhân cần sử dụng các chất tạo ngọt tổng hợp và tránh dùng saccaroza như bệnh tiểu đường, bệnh béo phì…
Đây là một khóm cây cảnh hình dáng hấp dẫn có trái đỏ, bóng, mọng (xem hình), trông đã đẹp mắt mà nếm thì có vị… “trên cả tuyệt vời” nên được gọi là “quả cây kỳ diệu”, tên khoa học Synsepalum dulcificum. Dù có ăn kèm với một trái cây “chua lè” như chanh chẳng hạn, thì chua cũng hoá ngọt.
Hiện nay, người ta đang tính dùng nó là “trái tạo ngọt thiên nhiên” thay thế đường theo dòng những thảo mộc như cây Cỏ ngọt Stevia rebaudiana; hơn thế nữa, có thể dùng kèm với những thuốc đắng, để át vị của thuốc – mà không làm thay đổi tác dụng, không tương tác với thuốc, không gây tác dụng phụ nào cả.
Một quán cà phê ở Tokyo (Nhật) đã có sáng kiến đưa “trái kỳ diệu” vào thực đơn các món tráng miệng, để thu hút những thực khách có nhu cầu giảm cân – ăn nhiều món ngon mà không sợ nạp quá nhiều Calo.
cây thần kỳ
Trái thần kì
Tác dụng của nước ép trái Synsepalum trên các gai vị giác ở lưỡi, có lẽ “kỳ diệu” ở chỗ vị ngọt kéo dài khoảng từ 30 phút đến 1 giờ, người ta có thể chấm dứt “phép lạ” này bằng cách … tráng miệng (rửa miệng) bằng một chút nước nóng hay trà nóng.
Cách trồng đơn giản cây thần kỳ:
cây thần kỳ - phân trùn quế
Chuẩn bị: đất sạch, phân trùn quế, dịch trùn quế D01, cây giống, chậu trồng (có thể mua ở các vựa kiểng, hoa kiểng trên toàn quốc)
Bước 1: Trộn đất sạch với phân trùn quế theo tỉ lệ 1 bao đất với 1 bao phân trùn quế. Rồi bỏ cây giống vào chậu trồng. Tưới nước mỗi ngày 2 lần sáng và chiều.
Bước 2: sau 1 tháng trồng, mỗi tuần phun lên lá thần kỳ bằng dịch trùn quế D01 nhằm cung cấp đạm cho cây, đồng thời bón phân trùn quế dưới gốc cung cấp dinh dưỡng đa trung vi lượng cho cây. Sau 6 tháng bắt đầu có hoa, rồi có trái, thời gian ra trái khá lâu.
Chất Miraculin của cây kỳ diệu là hợp chất tạo vị ngọt thiên nhiên đã được người châu Phi dùng rất nhiều năm, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng miraculin không tạo ra calori nên nhiều nhà sản xuất kỳ vọng nó sẽ có ứng dụng rộng rãi để điều trị bệnh nhân cần sử dụng các chất tạo ngọt tổng hợp và tránh dùng saccaroza như bệnh tiểu đường, bệnh béo phì…
Đây là một khóm cây cảnh hình dáng hấp dẫn có trái đỏ, bóng, mọng (xem hình), trông đã đẹp mắt mà nếm thì có vị… “trên cả tuyệt vời” nên được gọi là “quả cây kỳ diệu”, tên khoa học Synsepalum dulcificum. Dù có ăn kèm với một trái cây “chua lè” như chanh chẳng hạn, thì chua cũng hoá ngọt.
Hiện nay, người ta đang tính dùng nó là “trái tạo ngọt thiên nhiên” thay thế đường theo dòng những thảo mộc như cây Cỏ ngọt Stevia rebaudiana; hơn thế nữa, có thể dùng kèm với những thuốc đắng, để át vị của thuốc – mà không làm thay đổi tác dụng, không tương tác với thuốc, không gây tác dụng phụ nào cả.
Một quán cà phê ở Tokyo (Nhật) đã có sáng kiến đưa “trái kỳ diệu” vào thực đơn các món tráng miệng, để thu hút những thực khách có nhu cầu giảm cân – ăn nhiều món ngon mà không sợ nạp quá nhiều Calo.
cây thần kỳ
Trái thần kì
Tác dụng của nước ép trái Synsepalum trên các gai vị giác ở lưỡi, có lẽ “kỳ diệu” ở chỗ vị ngọt kéo dài khoảng từ 30 phút đến 1 giờ, người ta có thể chấm dứt “phép lạ” này bằng cách … tráng miệng (rửa miệng) bằng một chút nước nóng hay trà nóng.
Cách trồng đơn giản cây thần kỳ:
cây thần kỳ - phân trùn quế
Chuẩn bị: đất sạch, phân trùn quế, dịch trùn quế D01, cây giống, chậu trồng (có thể mua ở các vựa kiểng, hoa kiểng trên toàn quốc)
Bước 1: Trộn đất sạch với phân trùn quế theo tỉ lệ 1 bao đất với 1 bao phân trùn quế. Rồi bỏ cây giống vào chậu trồng. Tưới nước mỗi ngày 2 lần sáng và chiều.
Bước 2: sau 1 tháng trồng, mỗi tuần phun lên lá thần kỳ bằng dịch trùn quế D01 nhằm cung cấp đạm cho cây, đồng thời bón phân trùn quế dưới gốc cung cấp dinh dưỡng đa trung vi lượng cho cây. Sau 6 tháng bắt đầu có hoa, rồi có trái, thời gian ra trái khá lâu.
Thứ Sáu, 21 tháng 4, 2017
Bệnh hại trong vườn ươm cây ăn quả hiệu quả
I.GIỚI THIỆU Ðể đảm bảo năng suất và tuổi thọ của vườn cây, việc chọn lọc cây giống tốt và chăm sóc cây con trong giai đoạn vườn ươm là yếu tố hết sức quan trọng đối với nghề trồng cây ăn trái. Giữa cây trồng, vi sinh vật gây bệnh và điều kiện ngoại cảnh có mối liên quan và tác động hết sức chặt chẽ lẫn nhau.
Mức độ phát triển của các vi sinh vật gây hại cho cây phụ thuộc rất lớn vào điều kiện ngoại cảnh như là các yếu tố ẩm độ, nhiệt độ không khí và giai đoạn sinh trưởng của cây trồng.
Do trong điều kiện vườn ươm cây con có rất nhiều đặc điểm thuận lợi cho sự phát sinh và phát triển của bệnh hại, cho nên vấn đề theo dõi và chăm sóc cây con trong vườn ươm cần phải được quan tâm đặc biệt hơn so với điều kiện ngoài đồng.
II. MỘT SỐ ÐẶC ÐIỂM THUẬN LỢI CHO SỰ PHÁT SINH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BỆNH HẠI TRONG ÐIỀUKIỆN VƯỜN ƯƠM
Trong điều kiện của vườn ươm hầu hết các yếu tố ngoại cảnh đều phù hợp cho sự phát sinh, phát triển và lây lan của dịch bệnh. Các yếu tố ấy bao gồm:
1.Ẩm độ không khí trong vườn luôn luôn cao: Vườn ươm là nơi mà ẩm độ không khí luôn luôn được duy trì ở mức độ cao nhằm đáp ứng cho nhu cầu sinh trưởng của cây con. Yếu tố này cũng rất phù hợp cho sự sinh sản và phát tán của các mầm bệnh hại.
2. Mật độ cây trong vườn dày đặc: Do phải tận dụng diện tích nên mật độ cây con trong vườn thường cao. Mật độ cây cao này càng làm gia tăng ẩm độ trong liếp ươm cây và khả năng tiếp xúc để lây lan mầm bệnh từ cây này sang cây khác trong khu vườn ươm.
3.Giai đoạn cây mẫn cảm: Hầu hết các vi sinh vật gây bệnh đều dễ dàng tấn công vào cây qua các bộ phận non của cây. Vì vậy giai đoạn cây con trong vườn ươm là giai đoạn cây rất dễ bị nhiễm bệnh.Từ những đặc điểm thuận lợi cho sự phát triển của bệnh hại đã nêu trên chúng ta nhận thấy để phòng trị bệnh ngoài việc tác động vào ký sinh gây bệnh, việc tác động vào cây trồng và điều kiện sống bên ngoài bằng các biện pháp kỹ thuật quản lý vườn có một ý nghĩa rất cơ bản.
IV. MỘT SỐ BỆNH HẠI PHỔ BIẾN TRONG VƯỜN ƯƠM
1. Bệnh lở cổ rễ, chết cây con
Là bệnh rất quan trọng và phổ biến ở hầu hết các vườn ươm. Ðiều kiện ẩm độ cao của đất là yếu tố thích hợp nhất cho bệnh phát triển nhanh chóng. Bệnh này xảy ra trên hầu hết các loại cây ăn trái khác nhau trong vườn ươm.
Triệu chứng của bệnh:
Bệnh có thể xảy ra ở 2 giai đoạn:
- Giai đoạn trước khi cây mọc mầm, lúc mà các tử diệp của cây chưa nhô ra khỏi vỏ hạt thì đã bị nấm tấn công, và giai đoạn sau khi cây mọc mầm: lúc tử diệp đã xuất hiện cho đến khi cây được vài đôi lá. Tuy nhiên, phổ biến nhất là lúc cây có đôi lá đầu tiên đến khi cây có đôi lá thứ 3. Ðôi khi cây cũng có thể bị tấn công ở giai đoạn muộn hơn. Ngoài ra, cây sau khi ra ngôi đến vài tháng cũng có thể bị nhiễm bệnh. Vết bệnh thường xuất hiện ở phần gốc gần mặt đất. Phần mô bị bệnh hơi lõm vào, có màu nâu, sũng nước và lây lan rất nhanh. Khi vết bệnh lan rộng, cây con thường bị ngã rạp. Bộ rễ của cây thường bị thối đen. Bệnh thường xuất hiện từng cụm trên líp ươm, sau đó lan nhanh sang xung quanh. Ðối với những cây bị tấn công muộn, cây bị héo nhưng vẫn đứng chứ không bị ngã rạp như khi cây bị tấn công sớm.
Tác nhân:
Bệnh có thể do nhiều loại nấm lưu tồn trong đất như: Phytophthora spp, Rhizoctonia solani, Slerotium spp, Fusarium spp. gây ra. Nếu do nấm Slerotium gây hại thì trên mặt đất gần gốc câybệnh có thể nhìn thấy các hạch nấm tròn màu nâu. Trong khi nấm Rhizoctonia tạo nên cáchạch nấm tròn dẹp và bề mặt hạch nấm sần sùi.
Trong các vườn ươm cây con ở ÐBSCL nấm Rhizoctonia được thấy khá phổ biến hơn. Triệu chứng điển hình nhất của nấm này là làm cho cây bị teo thắt phần cổ rễ và làm cho cây bị chết. Nấm gây bệnh lưu tồn trong đất. Chúng phát triển và lây lan mạnh trong điều kiện đất có ẩm độ cao, thiếu ánh nắng như ở vườn ươm. Ngoài ra, cây con có nhiều mô non tiếp xúc với mặt đất, do vậy nấm bệnh dễ dàng xâm nhiễm. Bệnh này đặc biệt phát triển mạnh những lúc mưa kéo dài, luống ươm hay bầu đất bị ứ đọng nước.
Biện pháp phòng trị:
Ðối với bệnh này phòng ngừa là quan trọng hơn hết. Ðể phòng ngừa bệnh, hạt giống trước khi gieo cần được xử lý bằng nước nóng 52- 54oC, thời gian tùy thuộc vào từng loại hạt. Những hạt có vỏ dày, cứng thời gian xử lý hạt có thể dài hơn. Thuốc trừ nấm cũng được khuyến cáo xử lý cho hạt trước khi bảo quản và gieo trồng như Zineb, Benomyl, Mancozeb hoặc Rovral. Việckết hợp giữa thuốc trừ nấm và xử lý nhiệt sẽ cho hiệu quả phòng trừ bệnh cao hơn. Ðất gieo hạt hoặc đất ở các luống ương cây giống cũng cần phải được xử lý trước khi gieo. Có thể sử dụng Formalin xông hơi với vải bạt đậy bên ngoàitrong 3 ngày hoặc dùng một số loại thuốc trừ nấm để xử lý đất như Kitazin, Rovral. Sau đó phun thuốc lên cây con ở giai đoạn sau khi cây nẩy mầm chođến khi cây cao 15-20 cm.Cần duy trì độ ẩm thích hợp cho cây phát triển nhưng không quá cao. Cần thiết phải cho đất được tơi xốp không úng nước. Kiểm soát bệnh bằng chế độ phun thuốc định kỳ mỗi khi cây ra đọt non bằng các loại thuốc gốc đồng. Tỉa bỏ các bộ phân bị nhiễm bệnh nặng và tiêu hủy.
2.Bệnh cháy lá do nấm Rhizoctonia trên cây sầu riêng
Bệnh này rất quan trọng trên cây sầu riêng con (gốc ghép) và cây chuẩn bị trồng. Thiệt hại đôi khi có thể rất cao nếu việc phòng trị không kịp thời.
Triệu chứng: Bệnh gây hại tập trung từng cụm trên vườn ươm và sau đó lây lan rộng. Vết bệnh có màu xanh xám hay xám nâu, các lá bị bệnh có thể bị kết dính lại do sự mọc lan của các sợi nấm. Do đó khi khô, chúng dính với nhau nhưng không rụng. Bệnh này còn được gọi là "tổ kiến". Bệnh có thể tấn công trên các thân non làm khô chết phần ngọn phía trên mà sau đó có màu trắng xám.
Tác nhân: nấm Rhizoctonia solani Nấm phát triển thích hợp trong điều kiện ẩm độ cao, thiếu nắng. Sự lây lan có thể trực tiếp do sợi nấm mọc lan hoặc do hạch nấm di chuyển nhờ dòngnước. Ngoài cây sầu riêng, nấm còn tấn công nhiều loại cây conkhác trong vườn ươm. Nấm bệnh tấn công cây sầu riêng ở tất cả các giai đoạn khác nhau củacây sầu riêng. Do đó nguồn bệnh rất phong phú và có thể tiềm ẩn trong vườncây và sẵn sàng lây lan.
Phòng trừ:
- Làm giảm nguồn lây lan và ngăn chận sự lây lan từ bên ngoài.
- Mật độ trồng vừa phải để hạn chế sự lây lan
- Kiểm soát bệnh bằng chế độ phun thuốc định kỳ với các loại thuốc trừ nấm như:
- Benlate, Derosal, Carbendazim, Rovral.
3. Bệnh cháy lá (Sầu riêng): do nấm Phytophthora. Trong giai đoạn vườn ươm, nấm Phytophthora cũng gây ra hiện tượng cháy lá và chết đọt cho cây sầu riêng con.
Triệu chứng:
Vết bệnh trên lá khổi đầu là 1 chấm nhỏ màu nâu, sũng nước và lan rộng nhanh. Vết bệnh sau cùng thường có hình gần tròn hoặc bất định màu nâu đen với rìa màu vàng nhạt. Trong điều kiện phù hợp cho bệnh phát triển, vết bệnh là những phần mô bị thối nhanh có màu xám xanh hoặc xám đen. Lá bệnh bịhéo rũ nhanh và lây lan khá nhanh. Bệnh có thể tấn công cả trên phần ngọn cây làm cây bị chết ngọn.
Tác nhân: nấm Phytophthora palmivora Nấm bệnh có nhiều ký chủ và cây ăn trái khác nhau như dứa, cây có múi, mít, bơ. Do đó, nguồn bệnh rất phong phú trong tự nhiên và dễ dàng lây lantừ ký chủ này sang ký chủ khác.
Phòng trừ:
- Cần chăm sóc cây khỏe mạnh để tăng sức đề kháng cho cây như cung cấp nước, phân bón hợp lý
- Mật độ cây trong vườn ươm vừa phải, tránh quá dày
- Luôn luôn cải thiện sự thông thoáng trong vườn ươm, dọn vệ sinh trong vườn ươm và có khoảng cách thích hợp giữa các lô.
- Ðảm bảo mật độ gieo trồng vừa phải. Mật độ càng cao thì nguy cơ gây bệnh càng lớn.
- Nguồn nước tưới không có nguồn bệnh. Nguồn nước ngầm thường có ít nguồn bệnh hơn nước lấy từ sông rạch tự nhiên, bởi vì các bào tử của nấm bệnh lây lan dễ dàng qua nguồn nước tưới.
- Các dụng cụ chăm sóc phải được khử trùng với nước javel để ngăn ngừa sự lây truyền bệnh.
- Vườn ươm cần có lưới, rào để ngăn côn trùng, động vật khác xâm nhập.
- Hạn chế khách tham quan vào vườn ươm.
4. Bệnh loét hại cây có múi
Ðây là một loại bệnh cũng khá phổ biến và nghiêm trọng cho cây có múi ở giai đoạn cây con trong vườn ươm. Bệnh thường xuất hiện trên lá làm lárụng. Ðôi khi bệnh xuất hiện trên thân non làm khô cành và chết ngọn.
Triệu chứng: Ban đầu vết bệnh là những đốm chấm nhỏ màu vàng trong, sau đó đậm dần rồi dần dần hóa nâu, gồ ghề trên bề mặt của vết bệnh. Xung quanh vết bệnh có một quầng vàng rõ rệt, các vết bệnh có thể rời rạc hoặc kết dính lại tạo thành một mảng lớn trên bề mặt lá. Kích thước của vết bệnh thay đổi tùytheo mức độ mẫn cảm của giống.
Tác nhân: Vi khuẩn Xanthomonas campestris pv. Citri
Ðặc điểm phát triển: Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện mùa mưa, ẩm độ cao. Tốc độ lâylan khá nhanh qua nước mưa, nước tưới.
Phòng trừ:
- Ngăn chặn nguồn xâm nhiễm từ bên ngoài và qua vật liệu trồng, công nhân lao động, dụng cụ chăm sóc và nguồn nước tưới.
- Phân lô các giống riêng biệt theo khả năng kháng bệnh của từng giống để thuận lợi cho việc phòng trừ.
- Áp dụng các biện pháp xử lý đất và vật liệu trồng trước khi gieo trồng. Ðối với hạt, mắt ghép có thể xử lý bằng nước javel 1% chlore hoặc tính tương đương 350 ml nước javel với 3 lít nước sạch trong 20 phút hoặc xử lý bằngnước nóng ở 50o C trong 20 phút.
- Duy trì chế độ phun thuốc định kỳ bằng các loại thuốc gốc đồng như Kasuran, Cocide. Ðể phòng trị bệnh mỗi khi cây ra đọt non, cắt bỏ và tiêu hủy các bộ phận bị bệnh để tránh lây lan.
5. Bệnh ghẻ hại cây có múi
Bệnh ghẻ thường tấn công trên các chồi non của cây có múi, bệnh thường phổ biến trong vườn ươm ở mỗi đợt cây ra chồi non làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cây.
Triệu chứng:
Vết bệnh tạo thành nốt ghẻ trên lá, thường nhô cao ở một mặt của phiến lá. Chúng có màu xám nhạt, nhiều vết nhỏ thường liên kết lại làm cho lá bị nhăn nheo, biến dạng, cây kém phát triển và cằn cỗi.
Tác nhân: nấm Elsinoe fawceltii
Phòng trừ:
- Tránh gây thương tích cho cây con, vận chuyển.
- Khi cây bị thương nên xử lý bằng thuốc trừ nấm
- Cần tiêu hủy ngay các bộ phận bị bệnh nặng để tránh lây lan.
- Nên kiểm tra thường xuyên để sớm phát hiện cây bệnh và phun thuốc hóa học ngay khi phát hiện bệnh, sử dụng một số loại thuốc đồng như Aliette, Ridomyl.
- Dùng nấm đối kháng Trichoderma là một trong những biện pháp phòng trừ sinh học đáng chú ý.
6. Bệnh thán thư hại xoài: là một loại rất phổ biến trên xoài ở mọi giai đoạn. Bệnh thường tấn công trên các lá non, cành non, hoa và trái. Trên lá, vếtbệnh ban đầu là những đốm nhỏ màu nâu, có hình gần tròn hay bất định, vết bệnh về sau khô và rách. Bệnh làm lá biến dạng, nhăn nheo và rụng sớm. Ðốivới các lá non mới nhú, nếu bệnh tấn công, lá có thể bị thui đen và không pháttriển được. Trường hợp này sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng trên các chồi non của mắt ghép.
Tác nhân: nấm Collectotrichum gloeosporioides
Phòng trừ:
- Mật độ cây trong vườn vừa phải, đảm bảo được độ thông thoáng.
- Tiêu hủy các bộ phận bị bệnh nặng để tránh lây lan
- Ngăn ngừa sự lây lan nguồn bệnh từ bên ngoài có thể thông qua mắtghép, gốc ghép, cành ghép.
- Vườn ươm cây giống không nên gần khu vực trồng xoài để hạn chế sự lây lan.
- Phun thuốc hóa học để quản lý bệnh vào các giai đoạn đặc biệt mẫn cảm ở các giai đoạn lá non và hình thành. Có thể phun phòng khi chồi bắt đầu hình thành.
- Chú ý phòng trừ các loại côn trùng gây hại trên lá như: châu chấu, bọ cánh cứng nhằm hạn chế vết thương do chúng gây ra. Có thể phối hợp phun thuốc trừ sâu và thuốc trừ nấm để phòng ngừa sâu bệnh hại.
- Cần phải luân phiên nhiều loại thuốc khác nhau để hạn chế tính kháng thuốc của nấm gây bệnh.
7. Bệnh khô đọt (Diplodia natalensis)
Bệnh thường thấy ở các cây con ghép, có thể làm khô đọt và chết câysau khi ghép.
Triệu chứng:
Trên cành tược xanh non có đốm sậm màu, lan dần lên, lá cũng bị biến màu nâu, bìa lá thường cuốn lên trên, đôi khi cũng thấy nhựa cây chảy ra trên cành bị bệnh. Chẻ dọc cành bệnh thấy bên trong có các sọc màu nâu do cácmạch dẫn nhựa bị hư, bệnh phát triển mạnh khi ẩm độ không khí cao và lâylan mạnh trong mùa mưa.
Tác nhân: do nấm Diplodia natalensis
Phòng ngừa:
- Bệnh lây truyền từ cây mẹ bị nhiễm bệnh. Do đó, có thể ngăn ngừa nàynên chọn mắt ghép, cành ghép từ cây mẹ tốt, khỏe mạnh. Khi ghép cây cần vệ sinh, khử trùng dụng cụ ghép. Sau khi ghép cây, nên đặt cây trong điều kiện thoáng mát, và sau đó nhử nắng dần dần.
8. Phòng trừ bệnh và tương tự virus trong vườn ươm: Tiêu chuẩn cây con khi xuất vườn là phải sạch các bệnh virus và một sốbệnh hại quan trọng khác. Do đó, việc phòng trừ cây giống bị nhiễm bệnh dovirus là một yêu cầu bắt buộc.
Ðể phòng ngừa bệnh virus cho cây, cần chú ý thực hiện các nguyên tắc sau:
- Cây gốc ghép sạch bệnh: phần lớn các bệnh do virus gây ra thường ít truyền qua hạt. Do đó, các cây con gieo từ hạt nên được bảo vệ trong nhà lưới để tránh nhiễm bệnh virus do côn trùng truyền bệnh. Ngoài ra, các dụng cụ chăm sóc cây, dụng cụ chiết ghép cần phải được vệ sinh và sát trùng với nước javel để ngăn ngừa sự lây lan từ cây này sang cây khác.
Sử dụng vật liệu trồng sạch bệnh (gốc ghép, mắt ghép, cành ghép).
Ngày nay, kỹ thuật vi ghép và các biện pháp xét nghiệm bệnh virus và các tác nhân tương tự virus đang được phát triển để tạo ra và đảm bảo các vật liệu trồng trong vườn ươm sạch bệnh.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)



















